BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TOÁN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3

BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TOÁN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP

 

GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TOÁN HỌC

 

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3

 

  1. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

 

Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn Khoa học, Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học để thực hiện giáo dục STEM.

 

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán đưa ra năm năng lực thành tố của năng lực toán học cần hình thành và rèn luyện cho học sinh bao gồm: Tư duy và lập luận toán học; mô hình hoá toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng công cụ và phương tiện học Toán. Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể. Chương trình môn Toán còn góp phần giúp học sinh bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành người lao động, người công dân có trách nhiệm. Năng lực giao tiếp toán học là một trong những năng lực cốt lõi cần hình thành và phát triển ở học sinh trong quá trình dạy học Toán

 

Dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực học sinh là nhiệm vụ hàng đầu vô cùng quan trọng đối với mỗi giáo viên, trong đó giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà phải

“cố vấn”, tổ chức, điều hành các hoạt động học tập của học sinh. Để thực hiện được điều đó, người giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động học tập để phát huy được vai trò chủ động, tích cực lĩnh hội kiến thức và vận dụng vào thực tiễn của học sinh.

 

Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh của giáo viên tiểu học còn nhiều hạn chế. Giáo viên còn bị ảnh hưởng nhiều từ thói quen, kinh nghiệm dạy học theo định hướng nội dung, trang bị kiến thức mà chưa thành thục trong dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, chưa tổ chức được các hoạt động học tập nhằm phát triển các năng lực của học sinh một cách có hiệu quả.

 

Học sinh lớp 3, sau 2 năm tham gia các hoạt động học tập trong môi trường tiểu học (lớp 1, lớp 2), các em đã được hình thành và phát triển những năng lực đặc thù của môn toán ở mức độ nhất định, trong đó có năng lực giao tiếp toán học. Tuy nhiên, rất ít học sinh trong các giờ học toán hoặc khi tham gia các hoạt động ứng dụng có câu trả lời hoàn chỉnh, hợp lí với những giải thích hoặc mô tả rõ ràng; thường là những câu giải thích, trình bày không rõ ý, bỏ qua những phần quan trọng của vấn đề; thậm chí là sử dụng các từ ngữ không phản ánh được vấn đề, mô tả hoàn toàn sai vấn đề của tình huống.

 

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về dạy học, kĩ năng giao tiếp toán học, Chương trình môn Toán lớp 3, đặc điểm học sinh tiểu học, bản thân tôi đã thực hiện có hiệu quả “Một số biện pháp góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh trong dạy học môn Toán lớp 3”, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học nói chung, dạy học môn Toán ở trường tiểu học nói riêng.

  1. Mô tả giải pháp kỹ thuật

 

II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

 

II.1.1. Tìm hiểu về Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giao tiếp toán học II.1.1.1. Kĩ năng

 

Kĩ năng được hiểu theo nhiều hướng khác nhau, nhiều góc độ khác nhau nên hiện nay vẫn có những cách hiểu khác nhau cùng tồn tại.

 

Theo Từ điển tiếng Việt, “kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế”.

 

Theo Từ điển Tâm lí học thì “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.

 

Tác giả Nguyễn Văn Đồng quan niệm “Kĩ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”.

 

Tác giả Lê Văn Hồng thì cho răng “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới”. Nguyễn Quang Uẩn quan niệm “Kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”.

 

Qua các cách hiểu trên, kĩ năng được xem xét dựa trên nhiều các quan điểm khác nhau của nhà nghiên cứu. Mặc dù vậy, những quan niệm về kĩ năng đó không hề mâu thuẫn nhau mà chỉ khác nhau ở chỗ quan niệm đó được hiểu theo việc mở rộng hay thu hẹp các thành phần của kĩ năng.

 

Vì vậy, có thể hiểu “kĩ năng là một hoạt động hay hành động nào đó của con người để vận dụng những tri thức thu nhận được vào trong thực tiễn, giải quyết vấn đề thực tiễn nhằm đạt được mục đích đặt ra”. II.1.1.2 Giao tiếp

 

Giao tiếp là một hoạt động của con người, hoạt động này rất đa dạng, phong phú nhưng khá phức tạp được con người thực hiện hàng ngày trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực.

 

4

 

Theo Từ điển tiếng Việt, “giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau. Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp”.

 

Tác giả Lê Văn Hồng lại quan niệm “giao tiếp có thể là một quá trình, trong đó con người trao đổi với nhau các ý tưởng cảm xúc và thông tin nhằm xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội vì những mục đích khác nhau”.

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì cho rằng “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó, con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác đi giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. Như vậy, tác giả đã coi giao tiếp như điều kiện của sự tồn tại và phát triển của con người. Nhờ có giao tiếp mà các quan hệ, liên hệ nhân cách của con người được hoàn thiện, phát triển hơn.

 

Qua các quan niệm trên cho thấy mỗi nhà nghiên cứu hiểu giao tiếp theo các cách khác nhau để phục vụ cho nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi hiểu “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người để trao đổi thông tin nhằm đạt được mục đích nhất định. Công cụ được sử dụng trong giao tiếp là ngôn ngữ”.

 

Từ đó có thể hiểu “giao tiếp toán học là hoạt động giao tiếp giữa GV và HS, giữa HS và HS trong quá trình học tập môn Toán hoặc trong các hoạt động giáo dục toán học. Ngôn ngữ để sử dụng trong giao tiếp toán học là ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên (tiếng Việt) nhằm chuyển tải những thông tin toán học tới mọi người”.

 

II.1.1.3. Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giao tiếp toán học

 

Kĩ năng giao tiếp cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các cách hiểu khác nhau.

 

Chẳng hạn, tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng “Kĩ năng giao tiếp là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp”. Như vậy,

 

5

 

tác giả cho rằng kĩ năng giao tiếp của mỗi con người đều bao hàm khả năng vận dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân để trao đổi, chia sẻ với đối tượng giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp.

 

Tác giả Hoàng Thị Anh thì quan niệm “kĩ năng giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp. Kĩ năng giao tiếp là năng lực sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, là hệ thống các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hoà”. Qua cách hiểu đó thì thấy được kĩ năng giao tiếp của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào kinh nghiệm, vốn sống, sự hiểu biết mà còn chịu tác động của môi trường sống, văn hoá, tập quán, phong tục địa phương.

 

Nguyễn Bá Minh thì quan niệm “kĩ năng giao tiếp bao gồm các hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau”. Cách hiểu của tác giả Nguyễn Bá Minh lại hướng về hiểu kĩ năng giao tiếp là nhóm công cụ hỗ trợ chủ thể và đối tượng giao tiếp.

 

Tác giả Nguyễn Văn Đồng đưa ra cách hiểu về kĩ năng giao tiếp “là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt được mục đích đã định trong giao tiếp”.

 

Từ quan niệm của các tác giả, có thể hiểu kĩ năng giao tiếp “là quá trình nhận biết những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lí bên trong của đối tượng giao tiếp để từ đó điều chỉnh, điều khiển hành vi giao tiếp của bản thân nhằm đạt mục đích giao tiếp”.

Đồng thời, người giáo viên có thể quan niệm “kĩ năng giao tiếp toán học là quá trình sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ tự nhiên và phi ngôn ngữ để chuyển tải nội dung toán học, đạt được mục đích trong học tập môn Toán, trong các hoạt động giáo dục toán học”.

 

6

 

II.1.2. Một số phương pháp dạy học học góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS

 

II.1.2.1. Dạy học theo lối kiến tạo

 

  • Quan niệm

 

Dạy học theo lối kiến tạo là quá trình dạy học trong đó HS là chủ thể của hoạt động học tập, tích cực lĩnh hội kiến thức cho bản thân dựa trên những kiến thức đã có hoặc vốn sống, kinh nghiệm sống tích luỹ được. Quá trình kiến tạo kiến thức sẽ giúp HS tự sắp xếp những kiến thức mới thu nhận được vào “kho tàng” kiến thức đã có để tạo nên hệ thống kiến thức cho bản thân.

 

  • Đặc điểm của dạy học theo lối kiến tạo

 

Thuyết kiến tạo quan tâm đến tính xã hội và xem kiến thức như một công cụ để trao đổi các quan điểm của bản thân với mọi người. Do đó, tương tác xã hội rất quan trọng trong quá trình người học kiến tạo kiến thức cho bản thân.

 

Trong dạy học theo lối kiến tạo thì người học đóng vai trò chủ thể, tích cực kiến tạo kiến thức mới cho bản thân. Quá trình kiến tạo tri thức luôn mang tính cá thể nên khi tổ chức hoạt động học tập cần phải tạo được cơ hội để người học phát huy hết khả năng của bản thân.

 

Cần tạo ra môi trường học tập kiến tạo cần khuyến khích người học trao đổi, thảo luận, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề. Môi trường học tập trong môn Toán cần gợi được động cơ, hứng thú học tập cho người học. Vấn đề đưa ra khơi gợi được nhu cầu khám phá, phù hợp với đặc điểm nhận thức của người học.

GV phải luôn là người tạo được động lực, gợi được nhu cầu nhận thức của HS thông qua việc tổ chức môi trường học tập mang tính kiến tạo. GV giúp HS tự tìm tòi, khám phá, xây dựng kiến thức cho bản thân.

 

Thông qua việc kiến tạo tri thức, HS sẽ trau dồi, phát triển trí tuệ, nhân cách của bản thân, có được phong cách làm việc khoa học, vượt khó trong học tập và luôn mong muốn chinh phục được những tri thức mới.

 

7

 

  • Quy trình thực hiện dạy học theo lối kiến tạo

 

Vốn tri thức      Dự đoán      Kiểm nghiệm      Điều chỉnh                         Tri thức mới.

 

Quy trình dạy học theo lối kiến tạo gồm các bước:

 

  • Ôn tập, củng cố, tái hiện.

 

  • Tạo tình huống có vấn đề về nhận thức.

 

  • Giải quyết vấn đề.

 

  • Thảo luận, đề xuất giả thuyết.

 

  • Kiểm nghiệm, phân tích kết quả.

 

  • Kết luận; rút ra kiến thức, kĩ năng mới. * Ví dụ minh hoạ

 

Vận dụng dạy học kiến tạo trong hình thành quy tắc tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc như sau:

 

  • Ôn tập, củng cố, tái hiện: Tính giá trị biểu thức 34 + 26 x 4

 

HS hoạt động cá nhân tính giá trị của biểu thức và giải thích được cách tính.

 

  • Tạo tình huống có vấn đề về nhận thức

 

GV nêu vấn đề: Nếu muốn tính 34 + 26 trước, rồi nhân với 4 thì phải nghĩ ra kí hiệu, quy định mới và thể hiện trong biểu thức đã cho.

 

Tổ chức HS thảo luận nhóm trong thời gian nhất định để thảo luận thêm kí hiệu vào biểu thức. Mỗi nhóm sẽ cho vào biểu thức cách kí hiệu khác nhau.

 

  • Giải quyết vấn đề

 

HS nêu kết quả thảo luận, HS khác nhận xét. GV nhận xét và yêu cầu HS đọc nội dung sau, chia sẻ với bạn: Để thực hiện phép cộng 34 + 26 trước, rồi nhân với 4 người ta dùng kí hiệu dấu ngoặc ( ) và viết (34 + 26) x 4

 

  • Thảo luận, đề xuất giả thuyết

 

HS thực hiện tính giá trị biểu thức (34 + 26) x 4

 

HS nêu cách tính giá trị biểu thức khi có dấu ngoặc: (34 + 26) x 4.

 

HS đề xuất được: Khi tính giá trị của biểu thức có dấu ngoặc ( ) thì ta thực hiện các phép tính trong ngoặc trước.

 

8

 

  • Kiểm nghiệm, phân tích kết quả

 

HS vận dụng giả thuyết đã đề xuất thực hiện tính giá trị các biểu thức:

 

(25 + 15) : 5                             3      (40 – 20)

 

HS nêu chia sẻ kết quả và nêu cách tính.

 

  • Kết luận, rút ra kiến thức, kĩ năng mới.

 

GV rút ra kết luận: Khi tính giá trị của biểu thức có dấu ngoặc ( ) thì ta thực hiện các phép tính trong ngoặc trước.

 

II.1.2.2. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

 

  • Quan niệm

 

Theo Giáo dục học “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với nguyên tắc tính tự giác và tích cực, khêu gợi được hoạt động học tập mà chủ thể được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề”.

 

  • Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

 

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, GV đưa ra tình huống có vấn đề bảo đảm điều kiện: Tồn tại vấn đề, gợi nhu cầu nhận thức, khơi dậy niềm tin ở khả năng của bản thân.

 

HS tham gia hoạt động học tập phát hiện vấn đề, tự giác, tích cực huy động những kiến thức đã có, kinh nghiệm sống, vốn sống để giải quyết vấn đề. Qua việc giải quyết vấn đề, HS kiến tạo kiến thức cho bản thân và hướng đến đạt được mục tiêu học tập.

 

Như vậy, người học được đặt vào trong một bối cảnh học tập có vấn đề, hay nói cách khác là được đặt trong một “Tình huống gợi vấn đề” chứ không phải trong một bối cảnh tri thức sẵn có.

 

Người học chủ động, tích cực hoạt động, suy nghĩ và biến đổi đối tượng hoạt động, huy động kiến thức đã có để phân tích, phát hiện vấn đề cần giải quyết.

 

Mục tiêu hướng đến của “dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề” không chỉ là quá trình tìm kiếm và lĩnh hội tri thức mà còn tạo được cơ hội cho người học được học “bản thân việc học”.

 

9

 

  • Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

 

Bước 1. Phát hiện vấn đề (thâm nhập vấn đề)

 

Từ tình huống gợi vấn đề, HS phát hiện được vấn đề cần giải quyết. HS phát

 

hiện vấn đề và nói được vấn đề cần giải quyết với bạn, với GV. Qua đó, HS đặt ra được mục tiêu cần phải giải quyết vấn đề đó.

 

Bước 2. Tìm giải pháp

 

Khi xác định được vấn đề cần giải quyết, HS phân tích vấn đề, phân tích dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm của vấn đề, mối quan hệ giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm. HS xác định kiến thức đã có để vận dụng tìm cách giải quyết vấn đề. Khi đề xuất được cách giải quyết vấn đề là hình thành được giải pháp.

 

Bước 3. Trình bày giải pháp

 

Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, HS phát biểu lại vấn đề cần giải quyết và nêu giải pháp giải quyết vấn đề. HS sử dụng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên để trình bày giải pháp giải quyết vấn đề. HS sử dụng hiệu quả ngôn ngữ, lập luận chặt chẽ và biện luận các trường hợp xảy ra.

 

Bước 4. Nghiên cứu sâu giải pháp

 

HS nghiên cứu giải pháp đã trình bày, tìm hiểu những khía cạnh có thể ứng dụng giải pháp. Bên cạnh đó, HS có thể đề xuất những vấn đề có liên quan nhờ xem xét tương tự hoặc từ đó đề xuất giải pháp tối ưu của vấn đề. II.1.2.3. Dạy học hợp tác

 

  • Quan niệm

 

Dạy học hợp tác là cách thức tổ chức HS hoạt động theo những nhóm nhỏ để cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập, trong một khoảng thời gian nhất định.

 

Quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập có thể tổ chức HS hoạt động cặp đôi, hoạt động nhóm để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác hoàn thành nhiệm vụ được giao.

 

  • Đặc điểm của dạy học hợp tác

 

  • DH hợp tác giúp mỗi thành viên trong nhóm cùng làm việc với nhau, hướng tới một mục đích học tập chung, một nhiệm vụ chung cần giải quyết.

 

10

 

  • DH hợp tác tạo ra sự tác động tương hỗ qua lại trực tiếp giữa các thành viên trong nhóm theo mối quan hệ hai chiều, không qua trung gian.

 

  • DH hợp tác đặt người học vào vị trí chủ động, tích cực trong việc tìm kiếm kiến thức. DH hợp tác theo nhóm tạo điều kiện cho người học chuyển từ vị trí thụ động tiếp thu kiến thức sang chủ động tìm tòi, khám phá kiến thức. Người học sẽ làm việc tích cực hơn, cố gắng cao hơn bình thường.

 

  • DH hợp tác tạo ra môi trường học tập thân thiện, thoải mái, dễ chịu và vui vẻ. Khi trao đổi làm việc nhóm với bạn, mỗi thành viên trong nhóm sẽ cảm thấy tự nhiên, thoải mái, ít áp lực hơn khi tiếp xúc với giáo viên. Mỗi thành viên trong nhóm sẽ tự tin thể hiện bản thân, sẽ nói lên những cảm xúc, những suy nghĩ của mình.

 

  • DH hợp tác đòi hỏi mỗi thành viên đều phải có ý thức trách nhiệm, tính tổ chức và sự tự giác cao. Mỗi thành viên trong nhóm phải xác định được ý thức, trách nhiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ, công việc chung của cả nhóm.

 

  • DH hợp tác tạo điều kiện tốt cho việc phát triển kĩ năng giao tiếp và khả năng hợp tác. DH hợp tác theo nhóm tạo môi trường lí tưởng cho người học phát triển kĩ năng giao tiếp và khả năng hợp tác.
  • DH hợp tác giúp cho người học có cơ hội phát triển NL giao tiếp, NL tự chủ và tự học, NL giải quyết vấn đề và các PC chủ yếu trong CT GDPT 2018.

 

* Quy trình thực hiện

 

Bước 1. Lựa chọn nội dung thực hiện được dạy học hợp tác

 

GV cần lựa chọn nội dung không quá khó và không quá dễ. Nội dung đưa ra cần phải huy động kinh nghiệm, ý kiến, công sức của nhiều học sinh. Những nội dung quá dễ không cần tổ chức hợp tác theo nhóm, chỉ mất thời gian không cần thiết.

 

Bước 2. Thiết kế hoạt động học tập

 

Bước 3. Tổ chức DH hợp tác

 

  • GV nêu nhiệm vụ học tập hoặc vấn đề cần tìm hiểu, cần giải quyết cho lớp

 

  • Phân công nhóm học tập và phân công vị trí hoạt động nhóm (mỗi nhóm nên từ 2 – 4 học sinh). HS cần được ngồi đối diện với nhau để tạo ra sự tương tác trong quá trình học tập.

 

11

 

  • Giao nhiệm vụ cho nhóm học sinh: Mỗi nhóm có thể thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ chung hoặc tất cả các nhóm đều thực hiện một nhiệm vụ. Cần quy định thời gian làm việc và sản phẩm đạt được của nhóm.
  • Hướng dẫn hoạt động của nhóm học sinh: Nhóm trưởng điều khiển hoạt động, HS làm việc cá nhân, theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận và thống nhất kết quả chung, thư kí ghi chép kết quả thảo luận của nhóm, phân công đại diện trình bày kết quả trước lớp.
  • GV quan sát, hỗ trợ các nhóm thảo luận giải quyết nhiệm vụ được giao.

 

  • Tổ chức cho HS báo cáo kết quả và đánh giá: Đại diện từng nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm. Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến.
  • GV nhận xét và tổng kết. * Điều kiện để thực hiện

 

  • Phòng học có đủ không gian.

 

  • Nhiệm vụ học tập đủ khó.

 

  • Thời gian đủ để HS làm việc nhóm và trình bày kết quả

 

  • HS cần có các kĩ năng điều khiển, tổ chức và các kĩ năng xã hội.

 

  • Ví dụ minh hoạ

 

Vận dụng dạy học hợp tác trong giải bài toán: “Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng 20 m. Chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Cứ 8 m2 thu được 10kg thóc. Hỏi thửa ruộng đó thu được bao nhiêu tạ thóc?”

 

Lựa chọn nội dung: Giải bài toán liên quan đến tính diện tích hình chữ nhật và tính sản lượng thóc thu được.

 

Thiết kế phiếu học tập

 

12

 

 

PHIẾU HỌC TẬP

 

Giải bài toán sau: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng 20 m. Chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Cứ 8 m2 thu được 10kg thóc. Hỏi thửa ruộng đó thu được bao nhiêu tạ thóc?

 

  1. Trả lời câu hỏi sau: – Bài toán cho biết gì?

 

………………………………………………………………………………..

 

………………………………………………………………………………..

 

………………………………………………………………………………..

 

– Bài toán hỏi gì?

 

………………………………………………………………………………..

 

– Nêu cách tính diện tích hình chữ nhật khi biết chiều dài, chiều rộng

 

……………………………………………………………………………………

 

……………………………………………………………………………………

 

……………………………………………………………………………………

 

…………………………………………………………………………………….

 

  1. Giải bài toán

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • GV nêu nhiệm vụ học tập, giới thiệu phiếu học tập. Phiếu học tập được in vào giấy A0.

 

13

 

  • Chia HS trong lớp thành các nhóm nhỏ (nên chia nhóm 4). Phân công vị trí

 

các nhóm.

 

  • Tổ chức hoạt động nhóm: nhóm trưởng điều hành hoạt động của nhóm hoàn thành phiếu học tập; Trình bày sản phẩm thảo luận trên phiếu học tập. Khi giải bài tập, sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn nên HS sẽ hoạt động cá nhân trình bày bài giải vào 4 phần bên ngoài, sau đó thảo luận để viết cách giải vào phần ở giữa. GV quan sát, hỗ trợ hoạt động của các nhóm.

 

  • HS báo cáo kết quả thảo luận: Đại diện nhóm báo cáo kết quả thực hiện phiếu học tập. Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.

 

  • GV nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động của nhóm và chính xác kết quả thực hiện giải bài toán.

 

II.1.2.4. Dạy học khám phá * Khái niệm

 

Dạy học khám phá (Discovery learning) là một trong những PPDH tích cực được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm tìm hiểu nghiên cứu. Theo nhà Tâm lý học Jerome Bruner đưa ra quan niệm: “Dạy học khám phá là một quá trình mang tính chủ quan, qua quá trình đó, HS hình thành nên các ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên cơ sở vốn kiến thức có sẵn”.

 

Hiểu theo nghĩa đơn giản thì dạy học khám phá là GV tổ chức cho HS học theo nhóm nhằm phát huy năng lực GQVĐ và năng lực tự học cho HS.

Xuất phát từ những phân tích trên: “Dạy học khám phá được hiểu là quá trình dạy học, trong đó dưới sự hướng dẫn của GV, thông qua các hoạt động, HS tự tìm tòi, khám phá phát hiện ra tri thức mới nào đó trong chương trình học”.

 

  • Đặc điểm của dạy học khám phá

 

Dạy học khám phá không phải là một quá trình tự phát mà có sự hướng dẫn của GV; trong đó, HS đóng vai trò là người phát hiện kiến thức mới còn GV đóng vai trò là người tổ chức hoạt động học tập. Do đó, dạy học khám phá có những đặc điểm sau:

 

14

 

  • Dạy học khám phá trong nhà trường không nhằm thực hiện những vấn đề mà loài người chưa biết, mà chỉ giúp HS lĩnh hội một số tri thức mà loài người đã phát hiện ra.
  • Mục đích của dạy học khám phá không những làm cho HS lĩnh hội sâu sắc tri thức của môn học mà quan trọng hơn là trang bị cho người học phương pháp suy nghĩ, cách thức phát hiện và GQVĐ mang tính độc lập, sáng tạo.
  • Dạy học khám phá thường được thực hiện thông qua các câu hỏi hoặc những yêu cầu hành động, mà khi HS thực hiện và giải đáp thì sẽ xuất hiện con đường dẫn đến tri thức.

 

  • Trong dạy học khám phá, các hoạt động khám phá của HS thường được tổ chức theo nhóm, mỗi thành viên đều tích cực tham gia vào quá trình hoạt động nhóm: trả lời câu hỏi, bổ sung các câu hỏi của các thành viên khác, rút ra câu trả lời chung của nhóm, đánh giá kết quả học tập…qua hoạt động nhóm, mỗi HS có thể tự đánh giá, tự điều chỉnh và trau dồi vốn tri thức của bản thân, đây là cơ sở giúp HS hình thành phương pháp tự học hiệu quả cho mình.

* Các dạng của dạy học khám phá

 

 

 

  • Dạy học theo kiểu phát hiện lại (sự tự phát hiện).

 

  • Dạy học theo kiểu phát minh (sự tự phát minh).

 

Với HS tiểu học thì dạy học khám phá chủ yếu là dạy học theo kiểu phát hiện lại (sự tự phát hiện). Hai dạng của dạy học khám phá được thể hiện thông qua các kiểu của hoạt động khám phá trong quá trình dạy học sau:

 

Kiểu 1: Khám phá dẫn dắt là GV đưa ra vấn đề, đáp án và dẫn dắt HS tìm cách GQVĐ đó.

Kiểu 2: Khám phá hỗ trợ là GV đưa ra vấn đề và gợi ý HS trả lời.

 

Kiểu 3: Khám phá tự do là vấn đề, đáp án và phương pháp giải quyết do học sinh tự lực tìm ra.

 

15

 

  • Tiến trình của dạy học khám phá.

 

Tiến trình dạy học khám phá có thể thực hiện theo 5 bước sau đây:

 

  • Bước 1: Ôn tập, củng cố, tái hiện các kiến thức, kĩ năng có liên quan.

 

  • Bước 2: Nêu vấn đề cần khám phá.

 

  • Bước 3: Dự kiến và đề xuất giả thuyết (có thể thực hiện cá nhân hoặc nhóm).

 

  • Bước 4: Kiểm nghiệm, điều chỉnh kết quả.

 

  • Bước 5: Kết luận, rút ra kiến thức, kĩ năng mới.

 

 

II.1.3. Nội dung và yêu cầu cần đạt môn Toán lớp 3

 

 

         
Nội dung Yêu cầu cần đạt  
         
SỐ VÀ PHÉP TÍNH    
         
Số tự nhiên    
         
      – Đọc, viết được các số trong phạm vi 10 000; trong phạm  
    Số và cấu vi 100 000.  
    tạo thập – Nhận biết được số tròn nghìn, tròn mười nghìn.  
    phân của – Nhận biết được cấu tạo thập phân của một số.  
    một số – Nhận biết được chữ số La Mã và viết được các số tự  
      nhiên trong phạm vi 20 bằng cách sử dụng chữ số La Mã.  
         
      – Nhận biết được cách so sánh hai số trong phạm vi 100  
Số tự 000.  
nhiên – Xác định được số lớn nhất hoặc số bé nhất trong một  
    So sánh nhóm có không quá 4 số (trong phạm vi 100 000).  
    các số  
    – Thực hiện được việc sắp xếp các số theo thứ tự (từ bé  
       
      đến lớn hoặc ngược lại) trong một nhóm có không quá 4  
      số (trong phạm vi 100 000).  
         
    Làm tròn Làm quen với việc làm tròn số đến tròn chục, tròn trăm,  
    tròn nghìn, tròn mười nghìn (ví dụ: làm tròn số 1234 đến  
    số hàng chục thì được số 1230).  
       
         

 

    16  
     
Nội dung Yêu cầu cần đạt  
       
    – Thực hiện được phép cộng, phép trừ các số có đến 5 chữ  
  Phép số (có nhớ không quá hai lượt và không liên tiếp).  
  – Nhận biết được tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của  
  cộng,  
  phép trừ phép cộng và mối quan hệ giữa phép cộng với phép trừ  
    trong thực hành tính.  
       
    – Vận dụng được các bảng nhân, bảng chia 2, 3,…, 9 trong  
    thực hành tính.  
    – Thực hiện được phép nhân với số có một chữ số (có nhớ  
    không quá hai lượt và không liên tiếp).  
  Phép – Thực hiện được phép chia cho số có một chữ số.  
Các nhân, – Nhận biết và thực hiện được phép chia hết và phép chia có  
phép chia  
phép dư.  
tính   – Nhận biết được tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của  
với số    
  phép nhân và mối quan hệ giữa phép nhân với phép chia  
tự    
  trong thực hành tính.  
nhiên    
       
  Tính Thực hiện được cộng, trừ, nhân, chia nhẩm trong những  
  nhẩm trường hợp đơn giản.  
       
    – Làm quen với biểu thức số.  
    – Tính được giá trị của biểu thức số có đến hai dấu phép  
    tính và không có dấu ngoặc.  
  Biểu thức – Tính được giá trị của biểu thức số có đến hai dấu phép tính  
  số và có dấu ngoặc theo nguyên tắc thực hiện trong dấu ngoặc  

 

trước.

 

– Xác định được thành phần chưa biết của phép tính thông qua các giá trị đã biết.

 

    17    
       
Nội dung   Yêu cầu cần đạt  
       
  Thực Giải quyết được một số vấn đề gắn với việc giải các bài  
  hành giải toán có đến hai bước tính (trong phạm vi các số và phép  
  quyết vấn tính đã học) liên quan đến ý nghĩa thực tế của phép tính;  
  đề liên liên quan đến thành phần và kết quả của phép tính; liên  
  quan đến  
  quan đến các mối quan hệ so sánh trực tiếp và đơn giản  
  các phép (chẳng hạn: gấp một số lên một số lần, giảm một số đi một  
  tính đã  
  số lần, so sánh số lớn gấp mấy lần số bé).  
  học  
       
         
Phân số        
         
  Làm quen – Nhận biết được về thông qua các hình ảnh trực  
Phân quan. ;  ; … ;  của một nhóm đồ vật (đối  
số với phân – Xác định được  
số  
   

tượng) bằng việc chia thành các phần đều nhau. HÌNH HỌC VÀ ĐO LƯỜNG

Hình học trực quan    
         
    “Quan “- Nhận biết được điểm ở giữa, trung điểm của đoạn
    sát, nhận thẳng.”
    biết, mô “- Nhận biết được góc, góc vuông, góc không vuông.”
Hình   tả hình “- Nhận biết được tam giác, tứ giác.”
phẳng   dạng và
  “- Nhận biết được một số yếu tố cơ bản như đỉnh, cạnh,
  đặc điểm
  góc của hình chữ nhật, hình vuông; tâm, bán kính, đường
hình   của một kính của hình tròn.”
khối   số hình
  “- Nhận biết được một số yếu tố cơ bản như đỉnh, cạnh,
    phẳng và
    hình khối mặt của khối lập phương, khối hộp chữ nhật.”
    đơn giản”    
         
    “Thực “- Thực hiện được việc vẽ góc vuông, đường tròn, vẽ trang
    hành đo, trí.”
    vẽ, lắp “- Sử dụng được ê-ke để kiểm tra góc vuông, sử dụng được
    ghép, tạo com-pa để vẽ đường tròn.”
         

 

18

 

Nội dung                                           Yêu cầu cần đạt

 

 

hình gắn

 

với một

 

số hình

 

phẳng và

 

hình khối

 

đã học”

 

Đo lường

“- Thực hiện được việc vẽ hình vuông, hình chữ nhật bằng lưới ô vuông.”

 

“- Giải quyết được một số vấn đề liên quan đến gấp, cắt, ghép, xếp, vẽ và tạo hình trang trí.”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đo

 

lường

 

    “- Nhận biết được “diện tích” thông qua một số biểu tượng
    cụ thể.”
    “- Nhận biết được đơn vị đo diện tích: cm2  (xăng-ti-mét
    vuông).”
    “- Nhận biết được đơn vị đo độ dài: mm (mi-li-mét); quan
  “Biểu hệ giữa các đơn vị m, dm, cm và mm.”
  tượng về “- Nhận biết được đơn vị đo khối lượng: g (gam); quan hệ
  đại lượng giữa g và kg.”
  và đơn vị “- Nhận biết được đơn vị đo dung tích: ml (mi-li-lít); quan
  đo đại hệ giữa l và ml.”
  lượng” “- Nhận biết được đơn vị đo nhiệt độ (oC).”
    “- Nhận biết được mệnh giá của các tờ tiền Việt Nam
    (trong phạm vi 100 000 đồng); nhận biết được tờ tiền hai
    trăm nghìn đồng và năm trăm nghìn đồng (không yêu cầu
    học sinh đọc, viết số chỉ mệnh giá).”
    “- Nhận biết được tháng trong năm.”
     
    – “Sử dụng được một số dụng cụ thông dụng (một số loại
  Thực cân thông dụng, thước thẳng có chia vạch đến mi-li-mét,
  hành đo nhiệt kế,…) để thực hành cân, đo, đong, đếm.”
  đại lượng – “Đọc được giờ chính xác đến 5 phút và từng phút trên đồng
    hồ.”
     
  Tính toán – “Thực hiện được việc chuyển đổi và tính toán với các số
  và ước đo độ dài (mm, cm, dm, m, km); diện tích (cm2); khối
  lượng với lượng (g, kg); dung tích (ml, l); thời gian (phút, giờ, ngày,
  các số đo tuần lễ, tháng, năm); tiền Việt Nam đã học.”
  đại lượng  
     

 

19

 

Nội dung                                           Yêu cầu cần đạt

 

“- Tính được chu vi của hình tam giác, hình tứ giác, hình chữ nhật, hình vuông khi biết độ dài các cạnh.” “- Tính được diện tích hình chữ nhật, hình vuông.”

 

“- Thực hiện được việc ước lượng các kết quả đo lường trong một số trường hợp đơn giản (ví dụ: cân nặng của một con gà khoảng 2kg,…).”

 

  • Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn liên quan đến đo lường.”

 

MỘT SỐ YẾU TỐ THỐNG KÊ VÀ XÁC SUẤT Một số yếu tố thống kê

     
Một “Thu “Nhận biết được cách thu thập, phân loại, ghi chép số liệu
thập, thống kê (trong một số tình huống đơn giản) theo các tiêu
số yếu
phân loại, chí cho trước.”
tố sắp xếp  
thống  
các số  
 
liệu”  
   
     
  “Đọc, mô “Đọc và mô tả được các số liệu ở dạng bảng.”
  tả bảng  
  số liệu”  
     
  “Nhận  
  xét về các “Nêu được một số nhận xét đơn giản từ bảng số liệu.”
  số liệu  
  trong  
  bảng”  

 

Một số yếu tố xác suất

 

 

 

 

Một

 

số yếu

 

tố xác

 

suất

 

“Nhận “Nhận biết và mô tả được các khả năng xảy ra (có tính
biết và ngẫu nhiên) của một sự kiện khi thực hiện (1 lần) thí
mô tả các nghiệm đơn giản (ví dụ: nhận ra được hai khả năng xảy ra
khả năng đối với mặt xuất hiện của đồng xu khi tung 1 lần; nhận ra
xảy ra (có được hai khả năng xảy ra đối với màu của quả bóng lấy ra
tính ngẫu
nhiên)  
   

 

  20  
     
Nội dung Yêu cầu cần đạt  
     
của một từ hộp kín đựng các quả bóng có hai màu xanh hoặc  
sự kiện” đỏ;…).”  

 

HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM

 

Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổ sung các hoạt động khác tuỳ vào điều kiện cụ thể.”

 

Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn, chẳng hạn:”

 

  • Thực hành các hoạt động liên quan đến tính toán, đo lường và ước lượng như: thực hành tính và ước lượng chu vi, diện tích của một số hình phẳng trong thực tế liên quan đến các hình phẳng đã được học; thực hành đo, cân, đong và ước lượng độ dài, khối lượng, dung tích, nhiệt độ,…”

 

  • Thực hành thu thập, phân loại, sắp xếp số liệu thống kê (theo các tiêu chí cho trước) về một số đối tượng thống kê trong trường, lớp.”

“Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khoá (ví dụ: trò chơi học Toán hoặc các hoạt động “Học vui – Vui học”; trò chơi liên quan đến mua bán, trao đổi hàng hoá; lắp ghép, gấp, xếp hình; tung đồng xu, xúc xắc,…) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức toán.”

 

II.1.4. Đặc điểm HS tiểu học

 

II.1.4.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi tiểu học

 

Lứa tuổi HS tiểu học chuyển tiếp từ bậc học mầm non lên, chuyển hoạt động chủ yếu từ vui chơi sang hoạt động học tập. Đó là sự thay đổi lớn, vì thế chưa có sự thích nghi với môi trường học tập mới cũng như sự nghiêm túc trong quá trình học. Tuy nhiên, HS vẫn được tham gia vào một số hoạt động khác như hoạt động vui chơi với đồ vật được chuyển sang hoạt động vui chơi vận động nhằm phát triển toàn diện về thể chất. HS cũng bắt đầu tự phục vụ bản thân và tham gia các công việc giúp đỡ người thân trong gia đình. Ở trường, HS tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, hoạt động quét dọn giữ gìn vệ sinh trường lớp.

 

21

 

Qua hoạt động thì HS tiểu học có những thay đổi về các mối quan hệ xã hội. HS dần hình thành và thích nghi với các mối quan hệ xung quanh, từ đó đi đến mức độ hoàn thiện nhất định về quá trình nhận thức. Tuy nhiên, phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế của gia đình, phong tục tập quán của địa phương mà hoạt động của HS sẽ khác nhau. Chẳng hạn, với những HS ở vùng núi cao, vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế khó khăn thì HS sẽ phải tự lập từ nhỏ, thậm chí tham gia vào các hoạt động phụ giúp gia đình từ khi còn rất nhỏ. Qua đó, thấy được sự nỗ lực, cố gắng của HS khi là một thành viên tích cực trong gia đình. Trong trường học, HS chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập nên HS cũng có sự điều chỉnh, thay đổi hình thức, phương pháp học tập và ý thức học tập, xác định động cơ học tập phù hợp.

 

Đời sống tình cảm của HS tiểu học đã trở thành vấn đề căn bản và nổi bật ở bề mặt tâm lý. Đời sống tình cảm của HS tiểu học rất giàu cảm xúc và sống thiên về cảm xúc. HS rất dễ xúc động trước các tác động của thế giới, cường độ cảm xúc mạnh mẽ, khóc cười hồn nhiên. Khả năng tự kiềm chế còn hạn chế. Tình cảm của HS phong phú và ngày càng ổn định hơn.

 

Ban đầu, tình cảm của HS tiểu học nhiều khi biểu hiện mức độ chưa bền vững: dễ thay đổi tâm trạng, dễ xúc động, các mức độ và các loại xúc cảm biểu hiện nhanh, dễ thay đổi, dễ vui mừng, dễ lo sợ. Sự nảy sinh tình cảm của HS thường gắn với những tình huống cụ thể, thực tiễn trong các hoạt động. Một số tình cảm rộng lớn như tình yêu Tổ quốc, yêu lao động, tinh thần tự hào dân tộc,… cũng được hình thành và phát triển.”

 

HS tiểu học rất thích đọc truyện, đặc biệt là những truyện khoa học, văn nghệ có tính chất li kì. HS thích tò mò tìm hiểu thế giới xung quanh. Tình cảm thẩm mĩ phát triển nhanh chóng, yêu cái đẹp, đam mê những hiện tượng kì thú, hấp dẫn trong cuộc sống và ham muốn tìm hiểu khám phá chúng. Tình cảm đạo đức cũng dần được hình thành.

 

22

 

* Sự phát triển nhân cách.

 

Nhân cách của HS tiểu học mang tính chính thể và hồn nhiên, tự bộc lộ những

 

nhận thức, tư tưởng, tình cảm của mình trong quá trình phát triển; ý nghĩ đơn giản,

 

vô tư, hồn nhiên và thật thà. Bên cạnh đó, nhân cách của HS còn mang tính tiềm ẩn,

 

nhưng năng lực tố chất từ sâu bên trong còn chưa được bộc lộ rõ nét, nếu được đặt

 

trong hoàn cảnh ép buộc hay có những tác động nào đó thì chúng sẽ được thể hiện

 

  1. Đối với HS tiểu học đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế

 

mà sự phát triển nhân cách sẽ đi song hành với sự phát triển về thể chất, hoàn thiện

 

cùng với quá trình hoàn thiện của mình.

 

II.1.4.2. Đặc điểm sinh lí lứa tuổi tiểu học

 

Lứa tuổi HS tiểu học có độ tuổi từ 6 – 11 tuổi, là lứa tuổi đầu tiên của thời kì đi học vì thế có sự thay đổi mạnh mẽ về sinh lý, về cơ thể. Các đặc điểm về sinh lý được thể hiện qua sự phát triển về thể chất. Ở độ tuổi này, sự phát triển về chiều cao và trọng lượng chậm hơn so với lứa tuổi mẫu giáo. Chiều cao mỗi năm tăng thêm từ 2cm đến 5cm, trọng lượng cơ thể nặng thêm khoảng 2kg. Tim đập nhanh, mạch máu tương đối mở rộng, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

 

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kì phát triển nên dễ bị cong vẹo cột sống, gẫy dập,… Vì thế HS tiểu học cần có tư thế ngồi và hoạt động lao động phù hợp để cơ thể phát triển cân đối.

 

Hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh, nhất là các bắp thịt lớn vì thế HS thường thích chạy nhảy, vui đùa, chưa thích hợp với các việc tỉ mỉ.

Về cấu trúc của não bộ thì các tế bào não đang phát triển và có sự phân hóa rõ rệt về chức năng. Thùy trán phát triển mạnh, tế bào não tiến triển về cấu tạo và phân hóa rõ về mặt chức năng. Vỏ não phát triển đạt tới mức độ có thể thành lập được hệ thống liên hệ thần kinh phức tạp. Tuy nhiên, vỏ não chưa điều khiển được phần dưới vỏ, vì vậy, khả năng kiềm chế của HS còn hạn chế.

 

Hệ thần kinh cao cấp đang dần hoàn thiện về mặt chức năng nhưng có sự mất cân đối giữa hai hệ thống tín hiệu. Tư duy của HS chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy trừu tượng.

 

23

 

II.1.4.3. Đặc điểm về nhận thức

 

* Tri giác

 

Tri giác khá nhanh đặc biệt là những thuộc tính bề ngoài của các sự vật, hiện tượng. Ở giai đoạn đầu lứa tuổi, tri giác còn phiến diện, mang tính trực quan. Đến giai đoạn cuối, tri giác dần có sự phân hóa và phát triển đầy đủ và trọn vẹn hơn. Tri giác của HS tiểu học đã mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định.

* Chú ý

 

Chú ý không phải là quá trình nhận thức nhưng nó tham gia vào quá trình nhận thức như là để tác động vào quá trình nhận thức để cho chúng có kết quả.

 

  • đầu tuổi tiểu học, chú ý có chủ định còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Sự tập trung chú ý thiếu tính bền vững, dễ bị phân tán trong quá trình học tập cũng như vui chơi.

 

* Ghi nhớ

 

Cả hai loại ghi nhớ đều phát triển, có hai loại ghi nhớ: Ghi nhớ trực quan hình tượng và ghi nhớ từ ngữ, logic. Ở giai đoạn đầu độ tuổi, thiên về ghi nhớ máy móc và phát triển tương đối tốt, chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Ở giai đoạn cuối độ tuổi, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển.

 

* Tưởng tượng

 

  • đầu độ tuổi, việc tưởng tượng của HS còn chưa bền vững, đơn giản và dễ thay đổi. Ở cuối tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng tái tạo tương đối phát triển

 

  • giai đoạn cuối tiểu học, trẻ bắt đầu có khả năng làm thơ, vẽ tranh, …

 

* Tư duy

 

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng khái

 

24

 

quát. Khả năng khái quát hóa phát triển ở giai đoạn cuối cấp tiểu học, HS bắt đầu biết khái quát hóa lý luận.

 

* Ngôn ngữ

 

Phần lớn HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi vào lớp 1 thì bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5, ngôn ngữ viết được hoàn chỉnh, thành thạo về các mặt: chính tả, ngữ pháp, ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ mà HS có khả năng tự đọc, tự nhận thức mọi thứ xung quanh và phát triển bản thân qua các kênh thông tin khác nhau.

 

II.1.5. Thực trạng dạy học môn Toán theo hướng phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh

Với mục đích tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học môn Toán ở tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng. Tôi đã tiến hành khảo sát với 157 GV và cán bộ quản lí của một số trường tiểu học huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; HS lớp 3 của trường tiểu học Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

 

Nội dung khảo sát GV:

 

  • Sự cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học

 

môn Toán.

 

  • Mức độ phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học.

 

  • Những khó khăn GV thường gặp phải trong việc tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán học.

Nội dung khảo sát HS:

 

  • Khảo sát sản phẩm học tập của HS.

 

Qua việc sử dụng phương pháp đàm thoại, phương pháp điều tra bằng Anket với GV của một số trường tiểu học của huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; Sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm học tập của HS: phân tích đánh giá phiếu học tập, vở bài tập của HS; Sử dụng phương pháp thống kê toán học để tính tỉ lệ phần trăm. Kết quả khảo sát thu được:

 

Kết quả khảo sát GV:

 

25

 

Khi được hỏi về sự cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS lớp 3 trong dạy học môn Toán, chúng tôi nhận được kết quả như sau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

61,1% GV tham gia khảo sát đều cho rằng rất cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học môn Toán; 38,2% thấy cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học qua các giờ học Toán cho HS. Kết quả thu được có thể khẳng định hầu hết GV đều thấy được tầm quan trọng của giao tiếp toán học trong dạy học môn Toán.

Khi được hỏi về mức độ quan tâm đến việc phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS qua các giờ học môn Toán thì chúng tôi nhận được kết quả:

 

26

 

56,7% thầy cô tham gia khảo sát rất thường xuyên coi trọng việc phát triển kĩ năng giao tiếp toán học, 38,9% thường xuyên rèn luyện, phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS qua các hoạt động học tập trong giờ học toán. Chỉ có 4,5% GV thỉnh thoảng mới chú ý đến việc phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS. Không có GV nào chưa bao giờ phát triển kĩ năng giao tiếp toán học trong giờ học toán. Có được kết quả là do việc xác định vai trò, tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp toán học trong dạy học môn Toán.

 

Chúng tôi quan tâm đến kĩ năng giao tiếp toán học thành phần cần rèn luyện và phát triển cho HS trong dạy học môn Toán. Khi được hỏi “theo thầy/cô, trong dạy học môn Toán thì kĩ năng giao tiếp toán học nào là cần thiết phải phát triển cho HS?”, chúng tôi nhận được kết quả:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong 157 GV tham gia khảo sát thì có 135 GV (chiếm 86%) cho rằng kĩ năng sử dụng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên trong học tập môn Toán là cần thiết phải phát triển cho HS. 7,6% thì cho rằng cần thiết phải phát triển kĩ năng viết toán, kĩ năng đọc Toán và kĩ năng nghe – nói toán đều có số lượng GV lựa chọn giống nhau, mỗi kĩ năng đều có 3,2% GV lựa chọn.

 

Khi được hỏi “Thầy/cô có thường xuyên gặp khó khăn khi phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học môn Toán không?” thì kết quả cho thấy:

 

27

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

99/157 (chiếm 63,1%) thầy cô lựa chọn mức độ rất thường xuyên gặp khó khăn trong phát triển kĩ năng giao tiếp toán học, 30,6% GV thường xuyên gặp khó khăn. Qua đó, chúng tôi tìm hiểu những khó khăn mà GV gặp phải, chúng tôi nhận được kết quả sau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

55,4% GV tham gia khảo sát đều gặp khó khăn trong việc hướng dẫn HS sử dụng hiệu quả NNTH trong giao tiếp toán học; 24,8% GV gặp khó khăn trong việc hướng dẫn HS sử dụng NNTH để trình bày bài giải; 13,4% GV gặp khó khăn khi không có biện pháp cụ thể phát triển kĩ năng giao tiếp toán học.

 

Qua việc khảo sát GV, chúng tôi nhận thấy trong dạy học môn Toán ở lớp 3 cho thì GV gặp không ít khó khăn về việc tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán học.

 

28

 

Kết quả khảo sát HS:

 

Thông qua vở bài tập toán và phiếu học tập. Kết quả định tính thu được như

 

sau: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sản phẩm học tập của HS qua việc khảo sát vở

 

bài tập lớp 3. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy vấn đề đọc hiểu nội dung toán học

 

của HS còn nhiều hạn chế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chẳng hạn, HS đọc đề bài, không hiểu được hết dữ kiện đã cho của bài. Cụ thể, HS đã bỏ qua dữ kiện “sau một tuần lễ”. Nguyên của của xuất hiện sai lầm ở đây là HS có thể hiểu thuật ngữ “sau một tuần lễ” hoặc HS đọc mà không nhận biết được hết dữ kiện đã cho của bài toán. Bên cạnh đó, kĩ năng viết toán của HS cũng hạn chế, thể hiện ở câu lời giải của bước tính thứ hai đã ghi lại một phần dữ kiện đã cho của bài toán.

 

29

 

Một số HS khi giải bài tập, không xác định được đơn vị hoặc xác định đơn vị chưa chính xác. HS diễn đạt câu lời giải chưa đúng hoặc diễn đạt sai. Qua đó, phần nào thấy được kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tự nhiên và NNTH của HS còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng đến kết quả bài làm.

 

  • lớp 2, HS đã được học phép toán cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 (theo chương trình 2006), lên lớp 3 hoàn thiện hơn nữa kĩ năng cộng, trừ có nhớ cho HS phù hợp với vòng số được học. Tuy nhiên, nhiều HS còn quên không nhớ khi thực hiện phép tính, thậm chí, trong một phép tính, có lượt thì nhớ, có lượt thì quên. Hoặc HS đọc nội dung toán học, xác định sai số cần tìm. Chẳng hạn, số bé nhất có bốn chữ số HS không xác định được, số lớn nhất có ba chữ số thì xác định đúng nhưng số lớn nhất có bốn chữ số lại không xác định được. Qua đó, chúng tôi nhận định kĩ năng đọc hiểu của HS còn nhiều hạn chế một phần do chưa hiểu rõ về từ vựng, ngữ nghĩa của NNTH hoặc vốn NNTH còn hạn chế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngoài ra, qua dự giờ học Toán lớp 3 tại một số trường tiểu học thì chúng tôi nhận thấy HS chưa biết chia sẻ với bạn, với GV về nội dung toán học cần trình bày bằng ngôn ngữ nói. HS có thể hiểu bản chất vấn đề nhưng không diễn đạt được hoặc sử dụng từ để diễn đạt không chính xác. Nhiều HS chưa có tư duy phản biện khi nghe nội dung toán học bạn trình bày. Một phần của những hạn chế này là do GV chưa tạo được cơ hội cho HS được “nói toán”, chưa được tham gia các hoạt động nhóm để nói cho bạn nghe hoặc nghe bạn nói về nội dung toán học.

 

30

 

* Kết luận về thực trạng

 

Phân tích kết quả khảo sát thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp toán học chúng tôi nhận thấy:

 

  • 100% GV tham gia khảo sát đã xác định được sự cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS trong dạy học môn Toán.

 

  • GV cũng thường xuyên tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán

 

học qua dạy học môn Toán.

 

  • GV gặp không ít khó khăn khi phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS, trong đó phần lớn là chưa có được biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp toán học

 

trong dạy học môn Toán.

 

  • Kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học của HS gặp nhiều khó khăn. HS còn lúng túng, chưa đọc hiểu được nội dung bài toán, một phần do vốn NNTH của HS còn

 

hạn chế.

 

– HS sử dụng kí hiệu, thuật ngữ toán học chưa chính xác. Sự liên kết giữa NNTH của ngôn ngữ tự nhiên (tiếng Việt) còn nhiều hạn chế.

 

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS qua môn Toán ở lớp 3 là cơ sở để đề xuất một số biện pháp góp phần giúp GV hạn chế được phần nào khó khăn, giúp HS có được kĩ năng giao tiếp toán học tốt hơn. Đồng thời, các biện pháp cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

 

Nguyên tắc 1. Tuân thủ những vấn đề chung về lí luận dạy học môn Toán và bảo đảm yêu cầu cần đạt của chương trình môn Toán lớp 3

 

Khi đề xuất, thực hiện biện pháp cần tuân thủ những vấn đề chung về lí luận dạy học môn Toán nói chung và dạy học môn Toán ở tiểu học nói riêng.

 

Các biện pháp đề xuất phải bảo đảm thực hiện mục tiêu dạy học môn Toán, mục tiêu dạy học môn Toán cấp tiểu học và bảo đảm yêu cầu cần đạt của chương trình môn Toán lớp 3.

 

Nguyên tắc 2. Bảo đảm tính thực tiễn

 

31

 

Việc xây dựng, thực hiện các biện pháp cần phải khắc phục được những khó khăn, hạn chế của HS trong học tập môn Toán ở lớp 3, góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học. Biện pháp có thể thực hiện được trong điều kiện thực tế của quá trình dạy học môn Toán ở trường tiểu học.

 

Nguyên tắc 3. Các biện pháp phù hợp với sự phát triển ngôn ngữ của HS lớp 3. Các biện pháp xây dựng, thực hiện cần phải phù hợp với sự phát triển tư duy,

 

ngôn ngữ của HS tiểu học nói chung, HS lớp 3 nói riêng.

 

Nội dung và cách tiến hành các biện pháp trên được trình bày cụ thể trong mục II.2

II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

 

II.2.1. Phát triển vốn ngôn ngữ toán học cho học sinh

 

  1. Mục đích của biện pháp Biện pháp nhằm:

 

  • Giúp HS củng cố vốn từ vựng của ngôn ngữ toán học.

 

  • Giúp HS hiểu rõ hơn về cú pháp và ngôn ngữ toán học.

 

  • Làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ toán cho HS trong học tập môn Toán.

 

  1. Nội dung và cách tiến hành biện pháp

 

Ngôn ngữ toán học rất quan trọng trong quá trình học tập môn Toán của HS. Ngôn ngữ toán học là công cụ, phương tiện của giao tiếp toán học. HS chỉ thực sự hiểu được nội dung toán học khi có vốn kiến thức về ngôn ngữ toán học. Do đó, trong dạy học, bên cạnh việc trang bị tri thức toán học cần thiết thì GV cần coi trọng việc rèn luyện, phát triển ngôn ngữ toán học cho HS.

 

Khi phát triển vốn ngôn ngữ toán học cho HS thì GV có thể thực hiện theo các bước sau:

 

Bước 1. Củng cố và phát triển vốn từ vựng của NNTH

 

GV nêu vấn đề, tổ chức cho HS tiếp nhận vấn đề, xác định những từ vựng của ngôn ngữ toán học đã biết, những từ vựng mới trong bài học. Tuy nhiên, do đặc điểm tư duy của HS lớp 3 vẫn còn mang tính trực quan, cụ thể nên GV cần nêu vấn đề gắn với những tình huống cụ thể, ngữ cảnh gắn với việc học tập, sinh hoạt hàng ngày của

 

32

 

  1. Những tranh ảnh, hình vẽ khi sử dụng phải là giá mang kiến thức và thể hiện rõ được từ, thuật ngữ của ngôn ngữ toán học.

 

Do tư duy của HS lớp 3 phần nào còn mang tính cụ thể nên GV cần tổ chức cho HS được hoạt động trên các công cụ, phương tiện học toán. Tổ chức HS hoạt động tự phát hiện ra những từ vựng của NNTH thể hiện trong tranh vẽ hoặc trong tình huống có vấn đề.

Bước 2. Tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH

 

Trong dạy học môn Toán ở lớp 3 không giải thích ngữ nghĩa của các từ, thuật ngữ, kí hiệu của ngôn ngữ toán học mà HS sẽ tiếp nhận ngữ nghĩa qua các tình huống cụ thể hoặc qua hình vẽ. GV tổ chức cho HS hiểu được các tình huống, tranh ảnh, hình vẽ chuyển tải nội dung toán học. GV hướng dẫn HS cách viết, cách sử dụng cú pháp của các từ vựng, ngữ nghĩa của ngôn ngữ toán học mới tiếp nhận.

 

Bước đầu, GV tổ chức cho HS hiểu được cách sử dụng ngôn ngữ toán học mới tiếp nhận về mặt ngữ nghĩa, cú pháp trong những tình huống cụ thể, vận dụng vào bài tập, câu hỏi áp dụng trực tiếp.

 

Bước 3. Sử dụng NNTH trong học tập

 

Sau khi HS đã có thêm những thuật ngữ, kí hiệu toán học mới, biết được ngữ nghĩa và cú pháp của ngôn ngữ toán học mới tiếp nhận thì GV tổ chức cho HS sử dụng để thực hành, luyện tập. GV hướng dẫn HS cách liên kết các thuật ngữ, kí hiệu mới với những kí hiệu, thuật ngữ đã có để giải bài tập, giải quyết các tình huống thực tiễn. Tạo cơ hội cho HS được sử dụng NNTH trong các tình huống khác nhau, giúp vận dụng linh hoạt, chính xác trong quá trình học tập.

 

  1. Những lưu ý khi thực hiện biện pháp

 

  • Những tình huống, câu hỏi, bài tập nêu ra cho HS phải phù hợp với tư duy, ngôn ngữ của HS lớp 3.

 

  • Cần tạo được những tình huống gần gũi, quen thuộc, gắn với cuộc sống hàng ngày của HS.

 

33

 

  • Tạo cơ hội cho HS tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ toán học trong các giai đoạn khác nhau của quá trình học tập.

 

  1. d) Ví dụ minh hoạ

 

Ví dụ 1. Phát triển vốn NNTH cho HS khi học bài “Gấp một số lên một số lần” Bước 1. Củng cố và phát triển vốn từ vựng của NNTH

 

HS hoạt động cá nhân đọc bài toán “Đoạn thẳng AB dài 2 cm, đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB. Hỏi đoạn thẳng CD dài bao nhiêu xăng-ti-mét?”

 

HS xác định được các thuật ngữ, kí hiệu toán học đã có “đoạn thẳng”, “xăng-ti-mét”, “3 lần”. Từ vựng của NNTH mới là “gấp 3 lần”.

 

HS liên kết được các kiến thức đã có về đoạn thẳng, độ dài đoạn thẳng. HS phải hiểu được thông tin toán học chuyển tải trong bài toán và chuyển đổi thành kí hiệu toán học, đó là AB = 2 cm; CD dài gấp 3 lần AB.

 

HS trao đổi cặp đôi với bạn về những gì đọc được, xác định dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm của bài toán. Dữ kiện đã cho của bài toán “AB = 2cm, CD dài gấp 3 lần AB”, dữ kiện cần tìm của bài toán “tính độ dài đoạn thẳng CD”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bước 2. Tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH

 

Gấp một số lên một số lần là làm cho số đó lớn hơn, nhiều hơn về mặt số lượng, mức độ. HS tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH khi giải bài toán. HS suy nghĩ, biểu diễn được AB bằng một đoạn thẳng có độ dài 2 cm, khi đó CD dài gấp 3 lần AB tức là CD có độ dài bằng 3 lần đoạn thẳng AB. Khi HS sử dụng được hình ảnh để biểu diễn là HS đã đọc hiểu ngữ nghĩa toán học mà bài toán chuyển tải.

 

34

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS viết được đúng độ dài đoạn thẳng bằng các kí hiệu toán học, hình dung được cách tính độ dài đoạn thẳng CD bằng phép nhân và tính được kết quả đúng. Quá trình đó là HS đã suy nghĩ, hiểu được ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH và sử dụng được trong học tập toán. HS hiểu “Gấp một số lên một số lần ta lấy số đó nhân với số lần”.

 

Đối với những HS chưa hiểu được nội dung toán học chuyển tải trong bài toán thì GV cần hỗ trợ, giúp HS nhớ lại về đoạn thẳng, độ dài đoạn thẳng và hiểu được từ “gấp 3 lần” thông qua hình ảnh trực quan.

 

Bước 3. Sử dụng NNTH trong học tập

 

HS sử dụng vốn hiểu biết NNTH để liên kết các thuật ngữ, kí hiệu đã biết với các thuật ngữ mới tiếp nhận để trình bày bài giải. HS sử dụng NNTH để trình giải bài tập về dạng toán “Gấp một số lên một số lần”.

 

HS thảo luận về cách trình bày bài giải của bài toán. Đại diện nhóm nêu cách trình bày bài giải, các nhóm khác nhận xét. GV nhận xét, chính xác lại nội dung, cách trình bày bài giải dạng toán “Gấp một số lên một số lần”.

Hoạt động luyện tập, HS vận dụng trực tiếp kiến thức mới vào giải bài tập. Sử dụng các kí hiệu, thuật ngữ toán học để trình bày bài giải, liên kết NNTH với NNTN trong quá trình giải bài toán có lời văn.

 

Chẳng hạn, bài tập dạng điền số thích hợp:

 

    35    
Số?        
         
Số đã cho 6 9 5 10

 

Gấp số đã cho lên 4 lần

 

HS đọc hiểu nội dung, để gấp số đã cho lên 4 lần tức là lấy số đã cho nhân với 4.

 

HS hoạt động cá nhân hoàn thành bài tập bằng cách điền kết quả vào ô trống.

 

HS hoạt động cặp đôi đố bạn giải thích cách làm. Một bạn nêu “gấp 6 lên 4 lần ta được số nào?”, “Bạn làm thế nào ra kết quả đó?”, HS còn lại nêu kết quả “Gấp 6 lên 4 lần ta được 24. Tớ lấy 6 4 = 24”. Sau đó đổi vai cùng thực hiện.

 

Hoạt động toàn lớp, mời đại diện một vài cặp đôi thực hiện hỏi đáp. HS nhận xét. GV nhận xét, nêu câu hỏi để HS được củng cố quy tắc về “Gấp một số lên một số lần”.

 

HS vận dụng kiến thức đã học, sử dụng NNTH vào bài tập ở mức độ vận dụng cao hơn, trong tình huống bài toán có lời văn. Chẳng hạn bài toán “Mẹ rót nước mơ vào hai bình. Bình nhỏ có 2 l nước mơ, bình to có số lít nước mơ gấp 5 lần bình nhỏ. Hỏi bình to có bao nhiêu lít nước mơ?”.

 

HS hoạt động cá nhân đọc thầm bài toán và trả lời câu hỏi “Bài toán cho biết gì?, Bài toán hỏi gì?”. HS gạch chân các từ khoá toán học cần chú ý để tìm ra cách giải của bài toán.

 

“Mẹ rót nước mơ vào hai bình. Bình nhỏ có 2 l nước mơ, bình to có số lít nước mơ gấp 5 lần bình nhỏ. Hỏi bình to có bao nhiêu lít nước mơ?”.

 

HS hoạt động nhóm đôi, một bạn hỏi, một bạn trả lời để tìm hiểu bài toán và nêu cách giải. Chẳng hạn:

 

Bạn A: “Bài toán cho biết gì?”

 

Bạn B: Bài toán cho biết “Bình nhỏ có 2 l nước mơ, bình to có số lít nước mơ gấp 5 lần bình nhỏ”.

 

Đố cậu, “Bài toán hỏi gì?”

 

36

 

Bạn A: Bài toán “Hỏi bình to có bao nhiêu lít nước mơ” Muốn tìm số lít nước mơ ở bình to cậu làm thế nào?

 

Bạn B: Muốn tìm số lít nước mơ ở bình to thì lấy số lít nước mơ ở bình nhỏ nhân với 5.

 

HS hoạt động cá nhân trình bày bài giải vào vở, 1 HS trình bày bài giải vào bảng phụ. GV quan sát, hỗ trợ và đánh giá bài làm của HS.

 

Hoạt động toàn lớp, đại diện HS nêu bài giải. HS khác nhận xét. GV khuyến khích HS đặt câu hỏi để bạn giải thích cách làm. GV nhận xét, chính xác bài giải.

 

Với cách tổ chức hoạt động như trên, HS không chỉ sử dụng NNT toán học trong giải bài tập mà HS còn có cơ hội sử dụng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên để đọc hiểu nội dung toán học, được sử dụng để trao đổi, giao tiếp với bạn, với cô giáo và trình bày bài làm của mình qua hình thức viết.

 

Ví dụ 2. Phát triển vốn NNTH cho HS khi học bài “Điểm ở giữa. Trung điểm của đoạn thẳng”

 

Bước 1. Củng cố và phát triển vốn từ vựng của NNTH

 

HS được củng cố kí hiệu và thuật ngữ đã có liên quan đến bài học: điểm, ba điểm thẳng hàng, đoạn thẳng.

 

HS thảo luận hoàn thành phiếu học tập

 

 

 

Nhóm: ……………………………………… Lớp: …………..

 

 

PHIẾU HỌC TẬP

 

Cho hình vẽ sau:

 

37

 

  1. Viết tên các đoạn thẳng

 

……………………………………………………………………………………………………………………..

 

……………………………………………………………………………………………………………………..

 

  1. Viết tên ba điểm thẳng hàng

 

……………………………………………………………………………………………………………………..

 

……………………………………………………………………………………………………………………..

 

 

 

Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận. Các nhóm khác nhận xét.

 

GV nêu câu hỏi cho các nhóm hoặc yêu cầu HS đọc tên các đoạn thẳng; giải thích tại sao các điểm P, O, Q hay E, G, H là ba điểm thẳng hàng.

 

HS đọc thông tin và nói cho bạn nghe về nội dung đọc được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại diện một vài cặp đôi chia sẻ nội dung trước lớp. GV nêu câu hỏi: Giải thích tại sao A, C, B là ba điểm thẳng hàng? Điểm C có vị trí thể nào với hai điểm A và B?

 

GV chính xác kiến thức: Ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng. Ba điểm A, C, B thẳng hàng; C là điểm ở giữa hai điểm A và B.

 

Qua hoạt động trên, HS tiếp nhận thuật ngữ “điểm ở giữa hai điểm” trên cơ sở liên kết với các thuật ngữ đã có “điểm”, “ba điểm thẳng hàng”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS quan sát hình vẽ và thảo luận trả lời câu hỏi:

 

38

 

  • Điểm O ở vị trí nào so với hai điểm M và N?

 

  • Đoạn thẳng MN có độ dài bằng bao nhiêu?

 

  • So sánh độ dài đoạn thẳng MO và độ dài đoạn thẳng ON.

 

Đại diện HS nêu kết quả trả lời câu hỏi. HS nêu được điểm O là điểm ở giữa hai điểm M và N. Đoạn thẳng MN có độ dài bằng độ dài cạnh của 6 ô vuông. Độ dài đoạn thẳng MO và độ dài đoạn thẳng ON đều bằng độ dài cạnh của 3 ô vuông. Như vậy MO = ON

GV nhận xét câu trả lời, giới thiệu “O là điểm ở giữa hai điểm M và N. Độ dài đoạn thẳng MO bằng độ dài đoạn thẳng ON. Ta viết MO = ON. Điểm O được gọi là trung điểm của đoạn thẳng MN”.

 

Bước 2. Tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH

 

HS tiếp nhận thuật ngữ mới “điểm ở giữa”, “trung điểm của đoạn thẳng” trên cơ sở các thuật ngữ đã có “điểm”, “đoạn thẳng”, “ba điểm thẳng hàng”.

 

HS hiểu “điểm C là điểm ở giữa hai điểm A và B” khi ba điểm A, B, C thẳng hàng. “Điểm O là trung điểm của đoạn thẳng MN” khi “điểm O là điểm ở giữa hai điểm M và N; MO = ON”.

 

HS sử dụng được kí hiệu toán học để biểu diễn được độ dài hai đoạn thẳng bằng nhau, nhận biết được “điểm ở giữa”, “trung điểm của đoạn thẳng” thông qua hình ảnh trực quan.

Bước 3. Sử dụng NNTH trong học tập

 

39

 

HS hoạt động cá nhân, quan sát hình vẽ và ghi nhanh ra nháp tên điểm ở giữa hai điểm khác.

 

HS hoạt động cặp đôi, đố nhau nêu tên điểm ở giữa hai điểm khác. Chẳng hạn, một bạn chỉ vào hình thứ nhất và nói “Tớ đố cậu, trong hình này điểm nào là điểm ở giữa hai điểm khác?” HS còn lại sẽ trả lời “Điểm I là điểm ở giữa hai điểm G và H”. Sau đó đổi vai thực hiện. Trong quá trình hoạt động, GV khuyến khích HS nêu câu hỏi đề nghị bạn giải thích, “Tại sao điểm I lại được gọi là điểm ở giữa hai điểm G và H?”.

 

HS hoạt động toàn lớp, GV mời đại diện 3 cặp đôi (mỗi cặp đôi nêu tên “một điểm ở giữa hai điểm khác”). GV nêu câu hỏi để HS giải thích cách làm, HS khác nhận xét. Khi HS giải thích cách làm thì sẽ hiểu hơn được nội dung kiến thức tiếp nhận và có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp. Hơn nữa, GV thu được tín hiệu ngược về mức độ hiểu kiến thức và kĩ năng giao tiếp của HS.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS hoạt động cá nhân, viết tên trung điểm của mỗi đoạn thẳng: “Điểm O là trung điểm của đoạn thẳng PQ; Điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AC; Điểm M là trung điểm của đoạn thẳng DB”.

 

HS hoạt động nhóm, một bạn nêu tên trung điểm của các đoạn thẳng, các bạn khác nêu nhận xét. HS trong nhóm giải thích tại sao điểm vừa nêu lại là trung điểm của đoạn thẳng đó. Chẳng hạn, một bạn trong nhóm chỉ vào hình và nêu “Điểm O là trung điểm của đoạn thẳng PQ” thì các bạn còn lại trong nhóm nếu ý kiến “đồng ý”, “không đồng ý” với kết quả. Một HS trong nhóm sẽ giải thích tại sao “điểm O là

 

40

 

trung điểm của đoạn thẳng PQ”. Khi đó, HS nêu được “Điểm O là điểm ở giữa hai điểm P và Q; PO = OQ”.

 

HS hoạt động toàn lớp, đại diện nhóm nêu kết quả và giải thích cách làm. HS nhóm khác nhận xét. GV nhận xét, đánh giá.

 

Ví dụ 3. Phát triển vốn NNTH cho HS khi học bài “Làm quen với chữ số La Mã”

 

Bước 1. Củng cố và phát triển vốn từ vựng của NNTH  
HS quan sát hình ảnh hai chiếc đồng hồ và    
phát hiện điểm khác nhau về các số ghi    
trên mặt đồng hồ.    
HS đọc được giờ trên đồng hồ A nhưng Đồng hồ A Đồng hồ B
không đọc được giờ trên đồng hồ B.
   

 

GV giới thiệu: các số ở mặt đồng hồ B được ghi bằng một số chữ số La Mã

 

thường dùng I: một; V: năm; X: mười.

 

HS nhìn kí hiệu, đọc thầm. Đại diện một vài HS đọc to các kí hiệu chữ số La

 

Mã.

 

HS hoạt động cặp đôi, viết kí hiệu I, V, X đố bạn đọc. Đổi vai thực hiện.

 

Đại diện một vài cặp đôi thực hiện trước toàn lớp. HS nhận xét.

 

Bước 2. Tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH

 

GV giới thiệu cách viết số từ 1 đến 20 bằng các chữ số La Ma thường dùng là I, V, X.

 

41

 

HS thảo luận, phát hiện ra cách viết các số từ 1 đến 20 bằng chữ số La Mã. HS viết các số từ 1 đến 20 bằng chữ số La Mã vào vở. HS nhìn các số được viết bằng chữ số La Mã và thực hiện đọc luân phiên trong nhóm.

 

HS hoạt động nhóm, thực hiện trò chơi “Đố bạn viết số bằng chữ số La Mã” Luật chơi: Quản trò nêu 1 số (trong phạm vi từ 1 đến 20), các nhóm sẽ viết số

 

đó bằng chữ số La Mã, nhóm nào viết đúng và nhanh nhất được 1 điểm. Trò chơi diễn ra với 20 lượt chơi, các số được quản trò nêu ra không được lặp lại, trong phạm

 

  • từ 1 đến 20. Sau khi kết thúc trò chơi, nhóm nào được nhiều điểm nhất sẽ là nhóm chiến thắng.

 

Đại diện một vài HS viết, đọc các số từ 1 đến 20 bằng chữ số La Mã. Bước 3. Sử dụng NNTH trong học tập

 

HS sử dụng NNTH vừa tiếp nhận để hoàn thành Phiếu học tập.

 

 

 

Họ và tên ……………………………………… Lớp: ………..

 

 

PHIẾU HỌC TẬP

 

Bài 1. a) Viết cách đọc các số La Mã sau:

 

I         II        IV       V       VI      VIII      IX       XI       XV          XVIII XX

 

 

 

 

 

 

  1. b) Viết các số sau bằng chữ số La Mã

 

3          5          7          10         12       131        14         16            17        19

 

 

 

 

 

 

 

HS hoạt động cặp đôi đổi chéo phiếu học tập để kiểm tra, khuyến khích HS biểu thị cảm xúc bằng hình vẽ đơn giản (trái tim) vào sản phẩm học tập của bạn nếu bạn làm hoàn chỉnh, đúng, viết đẹp, cẩn thận.

 

42

 

Bài 2. Mỗi đồng hồ sau chỉ mấy giờ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • bài tập này, HS liên kết các kí hiệu toán học vừa tiếp nhận (chữ số La Mã) với cách đọc giờ trên đồng hồ đã học để đọc được giờ của từng đồng hồ. GV có thể tổ chức theo cách thức như sau:

HS hoạt động cá nhân, quan sát giờ trên đồng hồ và đọc thầm giờ.

 

HS hoạt động cặp đôi, chỉ vào 1 đồng hồ bất kì rồi đố bạn đọc giờ trên đồng hồ đó. Khi nghe bạn đọc, HS nêu nhận xét (bạn đọc giờ đúng rồi hoặc bạn đọc chưa đúng) và khuyến khích HS giải thích cách làm. Sau đó đổi vai thực hiện.

 

Đại diện một vài cặp đôi thực hiện đố nhau trước lớp, HS khác nhận xét. GV nhận xét và chính xác lại kết quả của bài tập.

 

Bài 3. Dùng que tính xếp các số sau bằng chữ số La Mã: 2, 4, 9, 10, 11, 20 HS hoạt động cá nhân sử dụng que tính xếp các số 2, 4, 9, 10, 11, 20 bằng chữ

 

số La Mã.

 

43

 

HS hoạt động nhóm chỉ vào số đã xếp bằng chữ số La Mã và đố bạn đọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS hoạt động toàn lớp báo cáo kết quả xếp các số 2, 4, 9, 10, 11, 20 bằng chữ số La Mã. HS đọc các số vừa xếp.

 

HS khác nhận xét. GV nhận xét, đánh giá.

 

Như vậy, cách tổ chức hoạt động học tập đã góp phần giúp HS củng cố và phát triển NNTH, sử dụng kí hiệu, thuật ngữ toán học trong giải bài tập và giải quyết các tình huống thực tiễn.

 

Ví dụ 4. Phát triển vốn NNTH cho HS khi học bài “Bảng số liệu thống kê” Bước 1. Củng cố và phát triển vốn từ vựng của NNTH

 

HS đã làm quen với thuật ngữ “thu thập, phân loại, ghi chép số liệu thống kê”.

 

  • bài học này, HS được củng cố hơn nữa về cách đọc, hiểu ngữ nghĩa và vận dụng vào giải bài tập. Bên cạnh đó, HS được làm quen với thuật ngữ “bảng số liệu thống kê”.

 

HS thực hiện điều tra số những hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của các bạn trong tổ. Kết quả điều tra được diễn trong bằng “bảng thống kê số liệu”.

Bước 2. Tiếp nhận ngữ nghĩa, cú pháp của NNTH

 

44

 

 

HS thảo luận nhóm quan sát bảng và nói về cấu tạo của bảng. HS quan sát và nhận thấy: Bảng có hai hàng. Hàng thứ nhất ghi tên các hoạt động

 

Hàng thứ hai ghi số người của mỗi hoạt động.

 

Đại diện nhóm báo cáo kết quả trước lớp. GV nhận xét, chính xác lại kiến thức:

 

“Bảng số liệu thống kê gồm: Tên của bảng; Bảng gồm hai hàng. Hàng trên ghi tên hoạt động (chơi thể thao, đọc sách, xem ti vi); Hàng dưới ghi số người tham gia mỗi hoạt động. Cụ thể, có 5 bạn chơi thể thao, 4 bạn đọc sách, 3 bạn xem ti vi”. GV nêu câu hỏi, HS nhắc lại cấu tạo của bảng và đọc nội dung của bảng số liệu thống kê.

 

Qua việc hiểu được cấu tạo của bảng số liệu thống kê và đọc mô tả được các số liệu trong bảng nghĩa là HS đã hiểu được ngữ nghĩa, cú pháp của thuật ngữ mới tiếp nhận.

Bước 3. Sử dụng NNTH trong học tập

 

HS sử dụng NNTH để đọc hiểu nội dung toán học chuyển tải trong các bài tập, liên kết các thuật ngữ toán học đã biết và mới tiếp nhận để hoàn thành bài tập. HS hoạt động cặp đôi thực hiện phiếu học tập sau:

 

Nhóm …………………………..Lớp: ………………

 

PHIẾU HỌC TẬP

 

Quan sát bảng số liệu thống kê sau và trả lời câu hỏi:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Viết tên của bảng số liệu thống kê.

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

  • Hàng trên của bảng số liệu thống kê cho biết gì?

 

45

 

…………………………………………………………………………………………………………..

 

  • Hàng dưới của bảng số liệu thống kê cho biết gì?

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

  • Cửa hàng đã nhập về bao nhiêu thùng kem?

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

  • Thùng kem loại nào được cửa hàng nhập về nhiều nhất? Thùng kem loại nào được cửa hàng nhập về ít nhất?

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

  • Cửa hàng đã nhập về tất cả bao nhiêu thùng kem các loại?

 

……………………………………………………………………………………………………………

 

 

HS thảo luận, cùng hoàn thành phiếu học tập. HS đọc, mô tả được bảng, hiểu nội dung số liệu của bảng. Từ đó, HS trả lời được các câu hỏi trong phiếu học tập.

 

Hoạt động toàn lớp, đại diện HS trình bày kết quả hoàn thành phiếu học tập. HS khác nhận xét. GV nhận xét về kết quả phiếu học tập của các cặp đôi, chính xác lại kết quả bài tập.

 

II.2.2. Phát triển kĩ năng giao tiếp trong giờ học toán cho HS

 

  1. Mục đích của biện pháp Biện pháp nhằm:

 

  • Giúp HS phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe bằng ngôn ngữ toán học.

 

  • Giúp HS sử dụng ngôn ngữ toán học chính xác trong các giờ học toán.

 

  • Tạo cơ hội cho HS được giao tiếp với bạn, với GV trong các hoạt động học

 

tập.

 

  1. Nội dung và cách tiến hành biện pháp

 

Trong giờ học toán, HS sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên để giao tiếp với bạn, với GV. Ngôn ngữ toán học có ảnh hưởng không nhỏ đến

 

46

 

kết quả giao tiếp, học tập môn Toán của HS. Khi HS hiểu được ngôn ngữ toán học thì sẽ sử dụng đúng, chính xác trong học toán, góp phần nâng cao kết quả học tập. Khi dạy học môn Toán, GV có thể tiến hành theo các bước sau góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS lớp 3.

 

Bước 1. Rèn kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học

 

Tổ chức HS đọc thầm, đọc thành tiếng trôi chảy, chính xác một nội dung toán học. GV nêu câu hỏi để biết được mức độ hiểu nội dung toán học vừa đọc của HS. Chẳng hạn, với bài toán có lời văn, sau khi yêu cầu HS đọc đề bài, GV đặt câu hỏi “Bài toán cho biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?” để giúp HS biết được dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm của bài toán; GV đặt câu hỏi về mối liên hệ giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm của bài toán để thấy được mức độ đọc hiểu của HS.

 

Bước 2. Rèn kĩ năng “nói toán” và “nghe toán” cho HS

 

Tạo cơ hội cho HS “nói toán” và “nghe toán” qua hoạt động nhóm hoặc tổ chức cho HS trình bày nội dung toán học đọc được hoặc nội dung toán học vừa nghe được trước toàn lớp.

 

GV đặt câu hỏi về nội dung toán học mà HS vừa nói để giúp HS hiểu sâu hơn vấn đề và có cơ hội sử dụng ngôn ngữ toán học để giải thích bài làm của mình. Ngoài ra, GV có thể đặt câu hỏi cho những HS khác trong nhóm, trong lớp về nội dung toán học vừa nghe được. Khuyến khích HS nêu câu hỏi hoặc nhận xét về nội dung toán học vừa nghe.

 

Bước 3. Rèn kĩ năng “viết toán” cho HS

 

Trong học toán, HS sử dụng ngôn ngữ toán học để trình bày cách giải quyết vấn đề. Để rèn luyện kĩ năng “viết toán” cho HS thì GV cần hướng dẫn HS viết ngắn gọn cách giải quyết vấn đề ra nháp, sau đó trình bày lại một cách cẩn thận.

 

Khi sử dụng ngôn ngữ toán học để “viết toán” cần phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ và sự uyển chuyển của ngôn ngữ. HS có thể sử dụng nhiều cách biểu diễn khác nhau của kí hiệu toán học để chuyển tải một nội dung toán học đúng. Chẳng hạn, khi nói đến số tám thì HS sử dụng kí hiệu (8) để biểu thị hoặc cũng có thể biểu thị bằng các hình thức khác như 10 – 2; 5 + 3; 4 2; 24 : 3, …

 

47

 

Khuyến khích HS kiểm tra lại nội dung toán học vừa viết để bảo đảm chặt chẽ và chính xác toán học.

 

  1. Những lưu ý khi thực hiện biện pháp

 

  • Yêu cầu HS đọc thầm, đọc chính xác nội dung toán học. Với những bài toán có lời văn thì có thể gạch chân vào các từ khoá để giữ lại các thông tin toán học cần thiết.

 

  • Tạo cơ hội cho HS được tranh luận, thảo luận tìm ra cách giải quyết vấn đề trong học tập môn Toán.

 

  • Khuyến khích HS sử dụng ngôn ngữ toán học chính xác, linh hoạt trong diễn đạt các nội dung toán học bằng hình thức viết hoặc nói.

 

  1. Ví dụ minh hoạ

 

Ví dụ 1. Phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS khi học bài “Mi-li-mét” [Toan3]

 

Bước 1. Rèn kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học

 

HS hoạt động cá nhân, đọc nội dung phần Khám phá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS quan sát băng giấy, đọc độ dài của băng giấy. HS đọc được băng giấy dài 1 cm hay băng giấy dài 1 mm.

 

HS đọc thầm nội dung trong phần khám phá, HS đọc 2-3 lần để bước đầu biết được nội dung đã đọc.

 

Bước 2. Rèn kĩ năng “nói toán” và “nghe toán” cho HS

 

HS hoạt động cặp đôi, nói cho bạn nghe về nội dung vừa đọc và nghe bạn nói.

 

48

 

HS hoạt động nhóm thảo luận, trả lời câu hỏi:

 

  • Mi-li-mét được viết tắt như thế nào?

 

  • Một xăng-ti-mét bằng mấy mi-li-mét?

 

  • Mười mi-li-mét bằng mấy xăng-ti-mét?

 

Đại diện nhóm báo cáo kết quả thảo luận, HS nhóm khác nhận xét.

 

GV chính xác nội dung bài học.

 

Hoạt động thực hành, luyện tập. GV tổ chức HS hoạt động, cách tổ chức có thể như sau để HS có được cơ hội “nói toán”, “nghe toán”.

 

Bài 1. a) Viết số đo độ dài theo đơn vị mi-li-mét của mỗi đoạn dây sau:”

 

 

 

 

 

 

 

  1. b) Ở câu a, đoạn dây nào dài hơn?

 

……………………………………………………………………………………………………………….

 

HS hoạt động cặp đôi: đố bạn đọc và viết số đo độ dài đoạn dây màu xanh, bạn còn lại trả lời; Bạn nêu câu đố lắng nghe câu trả lời của bạn cùng nhóm, nhận xét về câu trả lời. Sau đó đổi vai cùng thực hiện. Khuyến khích HS nêu câu hỏi để bạn giải thích về kết quả hoặc cách tìm ra đáp số. Bài 2. Số?

 

 

 

 

 

 

HS hoạt động nhóm, đại diện 1 bạn nói cho cả nhóm nghe về kết quả bài tập của mình, các bạn trong nhóm lắng nghe, nhận xét và nêu câu hỏi yêu cầu bạn giải thích cách làm. Mỗi bạn trong nhóm có thể đề nghị cho mình nêu kết quả hoặc giải thích cách làm của mình. Cách tổ chức hoạt động giúp HS có cơ hội nói cho bạn nghe và nghe bạn nói trong các hoạt động học tập của giờ toán. Bài 3. Viết đơn vị đo độ dài (mm, cm, m) vào chỗ trống thích hợp:

 

49

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS thảo luận về yêu cầu của bài toán và cách thực hiện. HS xác định được ghi đơn vị đo độ dài tương ứng với chiều cao, độ dài của từng con vật sao cho phù hợp. Mỗi bạn đưa ra ý kiến của mình trước nhóm và giải thích cách làm. Bước 3. Rèn kĩ năng “viết toán” cho HS.

Bài 1. HS xem tranh, đọc số đo độ dài trong tranh theo đơn vị đo là mm. HS đọc được đoạn dây màu xanh dài “hai mươi ba mi-li-mét”, HS sử dụng kí hiệu toán học, tuân theo cú pháp của ngôn ngữ toán học và viết được 23 mm. Tương tự như vậy với đoạn dây màu cam, HS viết được 32 mm.

 

HS thực hành so sánh 23 mm và 32 mm để trả lời câu hỏi ở ý b, đoạn dây màu cam dài hơn đoạn dây màu xanh.

 

Bài 2. HS đọc hiểu nội dung toán học bài tập chuyển tải, HS hiểu bài tập yêu cầu HS chuyển đổi đơn vị đo độ dài bằng cách viết số vào chỗ trống. Chẳng hạn, HS đọc 1 cm = … mm, HS liên hệ với kiến thức đã học và viết vào dấu chấm số 10. Như vậy, HS đã đọc hiểu được nội dung và sử dụng kí hiệu toán học để giải, viết số thích hợp vào ô trống.

 

Bài 3. HS quan sát hình ảnh, đồng thời huy động vốn sống đã có để giải bài tập. HS sẽ liên hệ được con hươu cao cổ có chiều cao theo đơn vị mét; con cá rô phi sẽ có chiều dài đo theo đơn vị cm; con kiến rất bé nên đơn vị độ dài là mm.

 

Như vậy, HS sử dụng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên để đọc hiểu nội dung toán học, huy động các kiến thức đã học để giải quyết bài tập. HS có cơ hội viết toán thông qua hoạt động giải bài tập.

 

50

 

Ví dụ 2. Phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS khi giải bài toán “Mẹ mang 100 000 đồng đi chợ, mẹ mua thịt hết 57 000 đồng, mua rau hết 15 000 đồng. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu tiền?”

 

Bước 1. Rèn kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học

 

HS đọc cá nhân, đọc thầm 2-3 lần bài toán. HS tự trả lời câu hỏi “Bài toán cho biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?”, sau đó HS gạch chân các từ khoá trong bài.

 

  • “Bài toán cho biết gì?”

 

Bài toán cho biết “Mẹ mang 100 000 đồng đi chợ, mẹ mua thịt hết 57 000 đồng, mua rau hết 15 000 đồng”.

 

  • “Bài toán hỏi gì?”

 

 

 

  • HS gạch chân các từ khoá trong bài.

 

“Mẹ mang 100 000 đồng đi chợ, mẹ mua thịt hết 57 000 đồng, mua rau hết 15 000 đồng. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu tiền?”

Bước 2. Rèn kĩ năng “nói toán” và “nghe toán” cho HS

 

HS hoạt động nhóm đôi, một bạn nêu câu hỏi, một bạn trả lời về những gì đã đọc được và cách giải bài toán. HS có thể nêu các câu hỏi để hiểu hơn về nội dung đã học, về mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm của bài toán. Chẳng hạn:

  • Mẹ mang bao nhiêu tiền đi chợ?

 

  • Mẹ mua thịt hết bao nhiêu tiền?

 

  • Mẹ mua rau hết bao nhiêu tiền?

 

  • Muốn biết mẹ còn lại bao nhiêu tiền thực hiện phép tính gì?

 

Một bạn hỏi, một bạn trả lời, sau đó đổi vai. Khi bạn trả lời xong, bạn nêu câu hỏi sẽ nhận xét bạn trả lời đúng hay chưa đúng, nếu chưa đúng, bạn nêu câu hỏi sẽ sửa lại cho đúng.

 

Khuyến khích HS thảo luận nêu cách giải bài toán bằng câu hỏi “Bạn giải bài toán này thế nào?”, “Bài toán được giải bằng mấy bước tính?”, …

 

51

 

Bước 3. Rèn kĩ năng “viết toán” cho HS.

 

HS trình bày bài giải vào vở. Lưu ý HS sau khi trình bày bài giải xong, kiểm tra lại từng bước tính (câu lời giải, phép tính).

 

HS có thể giải bài toán theo các cách sau:

 

Cách 1. Cách 2.
Mẹ mua thịt và rau hết số tiền là: Số tiền mẹ còn lại sau khi mua thịt là:
57 000 + 15 000 = 72 000 (đồng) 100 000 – 57 000 = 43 000 (đồng)
Mẹ còn lại số tiền là: Số tiền mẹ còn lại sau khi mua rau là:
100 000 – 72 000 = 28 000 (đồng) 43 000 – 15 000 = 28 000 (đồng)
Đáp số: 28 000 đồng. Đáp số: 28 000 đồng.

 

HS đổi bài kiểm tra kết quả. Đại diện HS viết bài giải vào bảng phụ để HS trong lớp nhận xẻt. GV nhận xét, đánh giá.

 

Ví dụ 3. Phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS khi hình thành quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.

 

Bước 1. Rèn kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học Dạy học hình thành quy tắc tính diện tích hình chữ nhật, GV tổ chức HS đọc hiểu nội dung toán học.

Tính diện tích hình chữ nhật ABCD (hình vẽ bên)

 

HS quan sát hình vẽ, huy động các kiến thức đã biết: biểu tượng về hình chữ nhật, biết được đặc điểm của hình chữ nhật, biểu tượng về hình vuông, đặc điểm của hình vuông, đơn vị đo độ dài xăng-ti-mét.

 

HS đọc được nội dung toán học hình vẽ chuyển tải: Hình chữ nhật ABCD có cạnh dài AB, DC, cạnh ngắn AD, BC; có 4 góc vuông; Hình chữ nhật ABCD được tạo bởi 10 ô vuông có cạnh 1 cm; Chiều dài của hình chữ nhật ABCD là 5 cm; chiều rộng là 2 cm.

 

Yêu cầu của bài toán là tính diện tích hình chữ nhật ABCD.

 

52

 

Khi HS gặp khó khăn trong đọc nội dung toán học mà hình vẽ chuyển tải, GV hỗ trợ học HS bằng cách đưa ra những câu hỏi gợi ý: Hình chữ nhật ABCD có mấy cạnh dài? mấy cạnh ngắn? Nêu tên của các cạnh dài, cạnh ngắn. Hình chữ nhật ABCD được tạo bởi mấy ô vuông có cạnh 1 cm? Chiều dài hình chữ nhật bằng bao nhiêu? Chiều rộng của hình chữ nhật bằng bao nhiêu? … Bước 2. Rèn kĩ năng “nói toán” và “nghe toán” cho HS

 

HS nói tóm tắt nội dung toán học vừa đọc. Chẳng hạn, HS nói: hình chữ nhật ABCD có 10 ô vuông cạnh 1 cm; Có chiều dài 5 cm, chiều rộng 2 cm. Tính diện tích hình chữ nhật. HS trong nhóm bổ sung, hoặc nói lại nội dung đọc được theo cách diễn đạt của bản thân.

 

HS thảo luận nhóm, mỗi cá nhân đề xuất cách giải quyết vấn đề. HS có thể đưa ra cách tính diện tích hình chữ nhật ABCD như sau:

 

Phương án 1. Đếm lần lượt số ô vuông 1 cm2 rồi tìm diện tích hình chữ nhật. Phương án 2. Đếm số ô vuông 1 cm2 theo hàng, đếm số hàng rồi tìm số ô

 

vuông của hình chữ nhật, tính diện tích hình chữ nhật.

 

Phương án 3. Đếm số ô vuông 1 cm2 theo cột, đếm số cột rồi tìm số ô vuông của hình chữ nhật, tính diện tích hình chữ nhật.

 

HS thảo luận, thống nhất lựa chọn cách giải quyết vấn đề, HS có thể lựa chọn 1 hoặc nhiều cách giải quyết trong số các giải pháp đưa ra. Bước 3. Rèn kĩ năng “viết toán” cho HS

 

HS suy nghĩ, liên kết các kiến thức đã học về hình chữ nhật, diện tích của một hình, đơn vị đo diện tích xăng-ti-mét vuông để viết ra cách giải quyết vấn đề. Mỗi nhóm viết lại cách giải quyết vấn đề của nhóm mình theo phương án đã lựa chọn. Chẳng hạn:

 

  • Phương án 1. Đếm lần lượt số ô vuông 1 cm2. Hình chữ nhật ABCD có 10 ô vuông.

Diện tích mỗi ô vuông là 1 cm2.

 

Diện tích hình chữ nhật ABCD là: 1  10 = 10 (cm2)

 

  • Phương án 2. Đếm số ô vuông 1 cm2 theo hàng, đếm số hàng rồi tìm số ô vuông của hình chữ nhật, tính diện tích hình chữ nhật.

 

53

 

Hình chữ nhật ABCD có số ô vuông là: 5    2 = 10 (ô vuông)

 

Diện tích mỗi ô vuông là 1 cm2.

 

Diện tích hình chữ nhật ABCD là: 1    10 = 10 (cm2)

 

  • Phương án 3. Đếm số ô vuông 1 cm2 theo cột, đếm số cột rồi tìm số ô vuông của hình chữ nhật, tính diện tích hình chữ nhật.

Hình chữ nhật ABCD có số ô vuông là: 2 5 = 10 (ô vuông) Diện tích mỗi ô vuông là 1 cm2.

Diện tích hình chữ nhật ABCD là: 1  10 = 10 (cm2)

 

Đại diện HS các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề. HS các nhóm khác nhận xét. GV hướng dẫn để HS phát hiện ra diện tích hình chữ nhật ABCD có mối liên hệ với chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật (10 cm2 = 5 cm 2 cm).

Từ đó, HS dự đoán cách tính diện tích hình chữ nhật (lấy chiều dài nhân với chiều rộng)

HS thảo luận tính diện tích hình chữ nhật với chiều dài và chiều rộng không cùng đơn vị đo (chẳng hạn, chiều dài 4 cm, chiều rộng 1 dm) để phát hiện ra muốn tính diện tích hình chữ nhật thì chiều dài và chiều rộng phải cùng đơn vị đo.

 

HS nêu cách tính diện tích hình chữ nhật: lấy chiều dài nhân với chiều rộng (cùng đơn vị đo). GV chính xác lại quy tắc tính diện tích hình chữ nhật, HS nhắc lại.

HS viết quy tắc tính diện tích hình chữ nhật vào vở “Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta lấy chiều dài nhân với chiều rộng (cùng đơn vị đo)”.

Ví dụ 4. Phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS khi giải bài tập“Quan sát biểu đồ tranh sau:

 

54

 

Trả lời câu hỏi:

 

  1. Bao nhiêu cuốn sách đã được bán trong ngày thứ tư?

 

  1. Ngày nào bán được 40 cuốn sách?

 

  1. Ngày thứ ba bán được nhiều hơn ngày thứ nhất bao nhiêu cuốn sách?

 

  1. Cả bốn ngày bán được bao nhiêu cuốn sách?”

 

Bước 1. Rèn kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học

 

HS đọc đề bài, có thể đọc 2 đến 3 lần để hiểu rõ hơn về dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm. Ở bài tập này, HS phải đọc được những thông tin toán học trong biểu đồ tranh về số sách toán học bán được trong bốn ngày.

 

Khi đọc, để biết được mỗi ngày cửa hàng bán được bao nhiêu cuốn sách, HS đọc và hiểu được mỗi kí hiệu trong biểu đồ tranh không phải là 1 cuốn sách mà mỗi kí hiệu đó biểu thị cho 5 cuốn sách.

 

HS đọc biểu đồ tranh thấy ngày thứ nhất được biểu thị bởi 4 kí hiệu, khi đã hiểu được mỗi kí hiệu tương ứng với 5 cuốn sách thì HS sẽ đọc được thành ngày thứ nhất cửa hàng bán được 20 cuốn sách.

 

Tương tự như vậy, HS sẽ đọc biểu đồ tranh và nhận biết được số lượng sách bán được trong mỗi ngày: Ngày thứ nhất bán được 20 cuốn sách; Ngày thứ hai bán được 40 cuốn sách; Ngày thứ ba bán được 30 cuốn sách: Ngày thứ tư bán được 45 cuốn sách.

 

Bước 2. Rèn kĩ năng “nói toán” và “nghe toán” cho HS

 

HS hoạt động nhóm, đại diện một thành viên của nhón nói cho bạn nghe về cách giải bài toán. Các thành viên khác trong nhóm nhận xét, góp ý về cách giải quyết vấn đề của bạn. Khuyến khích HS đặt câu hỏi về nội dung toán học vừa nghe được, chẳng hạn, “Bạn làm thế nào để tìm được kết quả ngày thứ tư bán được 45 cuốn sách?”, “Làm thế nào để biết được ngày thứ ba bán nhiều hơn ngày thứ nhất 10 cuốn sách”,

 

… Khi tiếp nhận câu hỏi, HS trả lời câu hỏi chính là giải thích cách làm của bản thân. Đại diện một vài nhóm báo cáo kết quả thảo luận toàn lớp, HS các nhóm khác nhận xét, đặt câu hỏi để nhóm bạn giải thích cách làm. HS nhóm báo cáo có thể đặt câu

 

55

 

hỏi lại với HS các nhóm bạn lắng nghe để biết được các bạn nhóm khác có hiểu vấn đề nghe được hay không.

 

Bước 3. Rèn kĩ năng “viết toán” cho HS

 

HS trình bày bài làm vào vở hoặc phiếu học tập theo yêu cầu của GV.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.2.3. Thiết kế bài tập góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS

 

  1. Mục đích của biện pháp Biện pháp nhằm:

– Giúp HS có nhiều cơ hội để phát triển kĩ năng giao tiếp toán học qua hệ thống bài tập toán học.

 

– Giúp HS sử dụng linh hoạt, chính xác ngôn ngữ toán học trong quá trình học tập

 

môn Toán.

 

  • Tạo cơ hội phát triển tư duy, ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ toán học nói riêng trong học tập.
  1. b) Nội dung và cách tiến hành biện pháp

 

Chương trình môn Toán lớp 3 gồm ba mạch kiến thức (Số và phép tính, Hình học và đo lường, Một số yếu tố thống kê và xác suất) và một hoạt động Thực hành trải nghiệm. Thiết kế bài tập không chỉ giúp HS củng cố tri thức toán học mà còn phát triển được kĩ năng giao tiếp toán học cho HS. Do đó, GV có thể thực hiện theo các bước sau:

 

56

 

Bước 1. Nghiên cứu yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết của chủ đề

 

Khi thực hiện thiết kế bài tập, GV nghiên cứu yêu cầu cần đạt của chủ đề. Qua yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết, những kiến thức liên quan (đã có) của HS khi học tập chủ đề. Xác định các dạng bài tập đã có trong sách giáo khoa, những dạng bài tập nào cần bổ sung để góp phần củng cố kiến thức, phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS.

 

Bước 2. Xác định các kí hiệu, thuật ngữ toán học sẽ sử dụng

 

Từ nội dung đã có ở bước 1, xác định các kí hiệu, thuật ngữ toán học mà HS sẽ sử dụng khi thực hiện hoạt động học tập ở chủ đề. GV xác định những kí hiệu, thuật ngữ đã có của HS, những kí hiệu, thuật ngữ nào cần bổ sung khi thực hiện giải bài tập.

Bên cạnh việc xác định ngôn ngữ toán học cần sử dụng thì GV xác định được những kiến thức HS sẽ dụng để giải bài tập trong chủ đề thiết kế.

 

Bước 3. Thiết kế bài tập và tổ chức HS hoạt động học tập

 

Lựa chọn ngữ cảnh của bài tập, xác định kiến thức, kĩ năng cần củng cố, kí hiệu, thuật ngữ toán học cần rèn luyện để góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học. Dự kiến hình thức tổ chức hoạt động học tập cho HS với dạng bài tập được thiết kế sao cho tạo được cơ hội cho HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán học và củng cố tri thức toán học.

 

  1. c) Những lưu ý khi thực hiện biện pháp

 

  • Bài tập thiết kế bảo đảm tính vừa sức với HS, có khả năng triển khai trong nhà trường tiểu học.

 

  • Bài tập thiết kế bảo đảm yêu cầu cần đạt của chương trình môn Toán lớp 3.

 

  • Khi thiết bài tập cần có ngữ cảnh gắn với sinh hoạt, học tập hàng ngày của HS.

 

  • Bài tập thiết kế phải góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS.

 

  1. d) Ví dụ minh hoạ

 

Ví dụ 1. Thiết kế bài tập chủ đề “Số tự nhiên” góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS.

 

57

 

Bước 1. Nghiên cứu yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết của chủ đề

 

Từ yêu cầu cần đạt của chủ đề “Số tự nhiên” trong “Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán”, nội dung chi tiết được xác định như sau:

  • Các số trong phạm vi 10 000, phạm vi 100 000.

 

  • Số tròn nghìn, tròn mười nghìn.

 

  • Cấu tạo thập phân của một số.

 

  • Chữ số La Mã; Sử dụng chữ số La Mã để viết các số tự nhiên trong phạm vi 20.

 

  • So sánh hai số trong phạm vi 100 000.

 

  • Số lớn nhất, số bé nhất; Sắp thứ tự các số trong phạm vi 100 000.

 

  • Làm tròn số đến tròn chục, tròn trăm, tròn nghìn, tròn mười nghìn.

 

Bước 2. Xác định các kí hiệu, thuật ngữ toán học sẽ sử dụng

 

Trong chủ đề này, các kí hiệu, thuật ngữ mới với HS được xác định: Kí hiệu các số trong phạm vi 10 000; phạm vi 100 000; Chữ số La Mã (I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X,…)

Bước 3. Thiết kế bài tập và tổ chức HS hoạt động học tập

 

Dựa trên nội dung chi tiết đã xác định, các kí hiệu, thuật ngữ mới HS sẽ sử dụng và có liên kết với các kí hiệu, thuật ngữ đã biết, bài tập được thiết kế góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học và bảo đảm yêu cầu cần đạt của chủ đề như sau:

Bài 1. Quan sát tranh, viết vào chỗ trống thích hợp:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết số: ……………………………………         Viết số: ……………………………………

 

Đọc số: ……………………………………         Đọc số: ……………………………………

 

58

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết số: …………………………………… Viết số: ……………………………………
Đọc số: …………………………………… Đọc số: ……………………………………

 

Phân tích: Thuật ngữ toán học: Nghìn, trăm, chục, đơn vị; Kí hiệu toán học: các chữ số 0, 1, 2, 3, 4, 5.

 

Để làm được bài tập này, HS quan sát tranh, đọc hiểu nội dung toán học trong từng bức tranh chuyển tải, sau đó sử dụng kí hiệu toán học để viết số và viết cách đọc các số đó. Bài tập này góp phần phát triển kĩ năng đọc, viết toán cho HS.

 

Với dạng bài tập này, GV thiết kế thành phiếu học tập, tổ chức HS làm việc cá nhân hoàn thành bài tập, sau đó trao đổi cặp đôi đổi phiếu học tập kiểm tra bài hoặc hai bạn đố nhau đọc, viết các số ở từng bức tranh rồi nhận xét.

 

HS hoạt động toàn lớp, đại diện một vài cặp đôi thực hiện, HS nhận xét. GV nhận

 

xét, đánh giá và chính xác lại kết quả.  
Bài 2. Hoàn thành bảng sau:    
           
Chục Nghìn Trăm Chục Đơn Viết số thành tổng
nghìn       vị  
           
3 4 5 6 0  
           
2 1 0 9 8  
           
3 5 0 0 4  

 

12 300 = 10 000 + 2 000 + 300

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học: Chục nghìn, nghìn, trăm, chục, đơn vị; Kí hiệu toán

 

học: “=”, “+”, các chữ số từ 0 đến 9.

 

Khi giải bài tập này, HS đọc hiểu được nội dung toán học truyền tải, nhận biết được dữ liệu đã cho và xác định được nhiệm vụ cần giải quyết. HS hiểu thuật ngữ và kí

 

59

 

hiệu toán học, biết cách sử dụng cú pháp toán học để đọc và viết được các số. HS viết số rồi phân tích số đó thành tổng của chục nghìn, nghìn, trăm, chục, đơn vị tức là HS hiểu được cách cấu tạo số của các số trong phạm vi 100 000.

 

HS có thể thực hiện cá nhân sau đó hoạt động nhóm để thống nhất kết quả. Đại diện nhóm báo cáo sản phẩm, HS nhóm khác nhận xét, bổ sung (nếu cần). GV nhận xét và đặt câu hỏi để HS giải thích cách làm. GV chính xác lại kết quả bài làm.

 

Bài tập trên tạo được cơ hội rèn kĩ năng đọc, viết toán học; Cách tổ chức hoạt động học tập giúp HS có cơ hội phát triển kĩ năng “nói toán”. Bài 3. Đố bạn.

 

Bạn Nam nghĩ ra một số có bốn chữ số, lớn hơn 6500 và bé hơn 7 000. Số đó có chữ số hàng trăm là 8, chữ số hàng chục bé hơn chữ số hàng trăm 3 đơn vị. Chữ số hàng đơn vị là 9. Viết và đọc số bạn Nam nghĩ ra.

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học: Số có bốn chữ số, lớn hơn, bé hơn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.

 

Khi giải bài toán này, HS phải đọc hiểu được nội dung toán học qua việc hiểu các thuật ngữ toán học, kí hiệu toán học. Từ đó, HS phân tích để làm rõ dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm của bài toán. HS xác định được số có bốn chữ số thì các chữ số

 

của số đó lần lượt thuộc vào hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị. Do đó,

 

số cần tìm có dạng          . Theo bài thì chữ số hàng trăm là 8 nên b = 8, chữ số hàng

 

chục bé hơn chữ số hàng trăm 3 đơn vị nên c = 5, chữ số hàng đơn vị là 9 nên d = 9.

 

Quá trình lập luận như trên dựa vào dữ kiện của bài toán HS sẽ tìm được kết quả.

 

Khi giải bài toán, HS có cơ hội đọc hiểu nội dung toán học, sử dụng ngôn ngữ để lập

 

luận, diễn đạt, trình bày cách giải quyết vấn đề, qua đó phát triển kĩ năng diễn đạt

 

bằng ngôn ngữ nói hoặc viết.

 

Bài 4. Đọc thông tin sau:

 

Tết Nguyên đán năm Quý Mão (2023), lượng khách quốc tế đến Việt Nam nhiều. Chẳng hạn, tỉnh Ninh Bình đón 29 500 lượt khách, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đón 10 688 lượt khách, Thủ đô Hà Nội đón 32 000 lượt khách.

 

60

 

  1. Làm tròn số đến hàng nghìn về số lượt khách du lịch đến mỗi tỉnh.

 

  1. Ước lượng tổng số lượt khách quốc tế đến 3 tỉnh trên trong dịp Tết Nguyên đán. Phân tích. Thuật ngữ toán học: làm tròn số, hàng nghìn, ước lượng. Các kí hiệu toán học: các số trong phạm vi 100 000.

Bài toán này mang đến thông tin thực tiễn, ngữ cảnh của bài toán gắn với thực tiễn cuộc sống. HS đọc hiểu nội dung bài toán, giữ lại được những thông tin toán học cần thiết để giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, HS có thể gạch chân những nội dung toán học xuất hiện trong bài toán.

 

Tết Nguyên đán năm Quý Mão (2023), lượng khách quốc tế đến Việt Nam nhiều. Chẳng hạn, tỉnh Ninh Bình đón 29 500 lượt khách, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đón 10 688 lượt khách, Thủ đô Hà Nội đón 32 000 lượt khách.

 

  1. Làm tròn số đến hàng nghìn về số lượt khách du lịch đến mỗi tỉnh.

 

  1. Ước lượng tổng số lượt khách quốc tế đến 3 tỉnh trên trong dịp Tết Nguyên đán. Khi giải bài toán, HS có cơ hội phát triển năng lực giao tiếp toán học qua hoạt động đọc các số trong phạm vi 100 000 và làm tròn các số đến hàng nghìn; thực hành ước lượng tính số lượt khách quốc tế đến 3 tỉnh trong dịp Tết.

 

HS làm việc cá nhân hoàn thành bài tập. HS hoạt động nhóm, chia sẻ về kết quả và cùng nói cho nhau nghe về cách làm. HS thống nhất, trình bày bài làm của nhóm. Đại diện nhóm trình bày trước lớp về kết quả và giải thích cách làm.

 

Bài 5. Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:

 

a) Số liền trước của số 9 998 là số:  
A. 9 997 B. 9 999 C. 10 000
b) Số 99 998 là số liền sau của số:  
A. 99 999 B. 99 997 C. 100 000
c) Số liền sau của số 99 999 là số:  
A. 99 998 B. 10 000 C. 100 000

 

  1. d) Làm tròn số 17 567 đến hàng chục nghìn được số:

 

  1. 20 000 B. 18 000 C. 2 000

 

61

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học: Số liền trước, số liền sau, làm tròn số, hàng chục

 

nghìn. Kí hiệu toán học: các số trong phạm vi 100 000.

 

HS đọc đề bài toán, liên kết các thuật ngữ, kí hiệu toán học để hiểu được nội dung toán học chuyển tải.

 

HS làm bài, khoanh vào các chữ đặt trước câu trả lời đúng. Chẳng hạn, đọc nội dung câu a, xác định “số liền trước” của số 9 998. HS hiểu được ngữ nghĩa của “số liền trước là số kém số đã cho 1 đơn vị”, từ đó xác định được số liền trước của số 9 998 là số 9 997, khi đó sẽ chọn đáp án A. Tương tự với câu b và câu c, HS hiểu được ngữ nghĩa của thuật ngữ “số liền sau là hơn số đã cho 1 đơn vị”. Từ đó xác định được số liền sau của số đã cho và chọn được kết quả. Với câu d, để chọn được đáp án đúng, HS đọc số, xác định cấu tạo thập phân của số, xác định chữ số hàng chục nghìn của số đó là số 1. Khi đó, HS quan tâm đến số chữ số đứng hàng nghìn là số 7 và nhớ lại cách làm tròn số (số 17 làm tròn thành số 20), qua đó có kết quả số 17 567 làm tròn đến hàng chục nghìn được số 20 000. HS sẽ chọn đáp án A.

 

Quá trình làm bài tập, HS sử dụng và liên kết các thuật ngữ, kí hiệu toán học, hiểu được ngữ nghĩa và cú pháp của NNTH để tìm kết quả. HS có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học khi giải bài tập này. Bài 6. Cho các thẻ số

 

 

 

 

 

  1. Lập các số có bốn chữ số mà chữ số hàng trăm là 9.

 

  1. Sắp xếp các số đã lập theo thứ tự từ bé đến lớn.

 

  1. Làm tròn các số đã lập đến hàng nghìn.

 

Phân tích. Thuật ngữ “Số có bốn chữ số, hàng trăm, hàng nghìn, sắp xếp các số, từ bé đến lớn, làm tròn số”.

 

HS đọc nội dung bài tập, hiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ “số có bốn chữ số gồm chữ số hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị”. HS sử dụng các thẻ số, lập số

 

62

 

có bốn chữ số mà chữ số hàng trăm là 9. HS lập số rồi ghi lại kết quả, khi đó được các số 2 970; 2 907; 7 920; 7 902. Sau khi lập số xong, HS thực hiện sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn bằng cách vận dụng quy tắc so sánh số trong phạm vi 10 000 thì được kết quả 2 907; 2 970; 7 902; 2 920. Khi thực hiện câu c, HS nhớ lại quy tắc làm tròn số, xác định được các chữ số hàng trăm của bốn số lập được luôn là 9 nên

 

khi làm tròn đến hàng nghìn thì sẽ được các số 3 00; 8 000.

 

HS làm việc cá nhân hoàn thành bài tập, sau đó hoạt động cặp đôi nói cho nhau nghe và nghe nhau nói về kết quả. Khuyến khích HS đặt câu hỏi để bạn giải thích cách làm. Hoạt động toàn lớp, đại diện cặp đôi hỏi – đáp về kết quả, giải thích cách làm trước toàn lớp.

Khi giải bài tập và tham gia hoạt động cặp đôi, toàn lớp thì HS đã có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học qua đọc hiểu, nghe hiểu và diễn đạt bằng ngôn ngữ nói (giải thích cách làm).

 

Ví dụ 2. Thiết kế bài tập chủ đề “Thực hành giải quyết vấn đề liên quan đến các phép tính đã học” góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS.

 

Bước 1. Nghiên cứu yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết của chủ đề

 

Từ yêu cầu cần đạt, xác định được nội dung chi tiết như sau: “- Bài toán giải bằng hai bước tính (trong phạm vi số và phép tính đã học).” “- Bài toán gấp một số lên một số lần.” “- Bài toán giảm một số đi một số lần.”

“- Bài toán so sánh số lớn gấp mấy lần số bé.”

 

Bước 2. Xác định các kí hiệu, thuật ngữ toán học sẽ sử dụng

 

Ngôn ngữ sử dụng trong các bài toán là sự kết hợp giữa ngôn ngữ tự nhiên và NNTH. Ngôn ngữ tự nhiên góp phần làm nên ngữ cảnh của bài toán, NNTH có vai trò chuyển tải thông tin toán học. Các thuật ngữ toán học sử dụng trong các bài toán có lời văn “bước tính, gấp, giảm, gấp lên một số lần, giảm đi một số lần, số lớn gấp mấy lần số bé”.

 

Bước 3. Thiết kế bài tập và tổ chức HS hoạt động học tập

 

63

 

Bài 1. Hiếu mua 3 quyển vở cùng loại, mỗi quyển có giá 13 000 đồng. Nam đưa cô bán hàng 50 000 đồng. Hỏi cô bán hàng trả lại Nam bao nhiêu tiền?

Phân tích: HS hoạt động cá nhân đọc hiểu nội dung toán học và trả lời được câu hỏi tìm hiểu bài toán. HS hoạt động cặp đôi một bạn hỏi, một bạn trả lời (sau đó đổi vai) về “Bài toán cho biết gì?, Bài toán hỏi gì? Bài toán thuộc dạng toán nào?”

 

HS hoạt động cá nhân tìm cách giải cho bài toán bằng cách gạch chân vào các từ khoá để giữ lại nội dung toán học.

 

Hiếu mua 3 quyển vở cùng loại, mỗi quyển có giá 13 000 đồng. Nam đưa cô bán hàng 50 000 đồng. Hỏi cô bán hàng trả lại Nam bao nhiêu tiền?

 

HS có thể tóm tắt bài toán, phác thảo các bước giải quyết vấn đề ra nháp. HS xác định được đây là dạng bài toán giải bằng hai bước tính.

 

  • Tìm số tiền phải trả khi mua 3 quyển vở, mỗi quyển 13 000 đồng (thực hiện phép

 

nhân).

 

  • Tính số tiền cô bán hàng phải trả.

 

HS trình bày bài giải vào vở, sau đó kiểm tra lại các bước giải.

 

Hoạt động toàn lớp, HS trình bày bài giải và giải thích cách làm.

 

Khi giải bài toán, HS được trao đổi, thảo luận với bạn đề dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm của bài toán, xác định dạng toán. HS trình bày bài giải bằng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên. Qua đó, HS không chỉ có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học mà còn có cơ hội phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học.

Bài 2. Mẹ sinh Hà năm 32 tuổi. Năm nay Hà 9 tuổi. Tính tổng số tuổi của hai mẹ con hiện nay.

 

Phân tích: Đây là bài toán tính tuổi giải bằng hai bước tính. Bài toán đã giấu đi dữ kiện số tuổi của mẹ hơn tuổi của con mà thay vào đó diễn đạt “Mẹ sinh Hà năm 32

 

64

 

tuổi”. HS với vốn sống của bản thân, sẽ phải lập luận và phát hiện được mẹ hơn Hà 32 tuổi. Qua đó, HS sẽ tìm được số tuổi của mẹ hiện nay.

 

HS đọc đề bài toán, phân tích dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm, mối quan hệ giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm.

 

HS có thể tự phát biểu lại bài toán theo các hiểu, chẳng hạn, “Mẹ hơn Hà 32 tuổi. Năm nay Hà 9 tuổi. Tính tổng số tuổi của hai mẹ con hiện nay”. Qua cách phát biểu lại bài toán, HS không chỉ hiểu đề bài mà còn tạo ra được cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học bằng ngôn ngữ nói.

 

HS phân tích, tìm ra phương hướng giải bài toán.

 

  • Tìm số tuổi của mẹ hiện nay.

 

  • Tìm tổng số tuổi của hai mẹ con hiện nay.

 

Để tìm tuổi của mẹ hiện nay, dựa vào dữ kiện “Mẹ hơn con 32 tuổi, năm nay con 9 tuổi”. Vì hiệu số tuổi của mẹ và con không đổi theo thời gian nên hiện nay mẹ vẫn hơn con 32 tuổi. Từ đó HS thực hiện phép cộng để tìm tuổi của mẹ, sau đó tìm tổng số tuổi của hai mẹ con.

HS có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học qua việc đọc hiểu nội dung bài toán, phát biểu bài toán dưới dạng tường minh hơn, trình bày bài giải bằng ngôn ngữ viết.

 

Bài 3. Một cơ sở chế biến thu mua cà phê hạt trong hai ngày. Ngày thứ nhất cơ sở chế biến đó thu mua được 2 315 kg cà phê hạt. Ngày thứ hai thu mua được gấp đôi ngày thứ nhất. Hỏi cả hai ngày cơ sở chế biến đó thu mua được bao nhiêu ki-lô-gam cà phê hạt?

Hạt cà phê

 

Phân tích: Bài toán cho biết số ki-lô-gam cà phê cơ sở chế biến mua được trong ngày thứ nhất là 2 315 kg, ngày thứ hai gấp đôi ngày thứ nhất. Để tìm được số ki-lô-gam cà phê thu mua được trong ngày thứ hai thì HS nhớ lại dạng toán “gấp một số lên

 

65

 

một số lần”. Sau đó, tìm ra kết quả của bài toán bằng cách thực hiện phép tính cộng.

 

Đây là dạng “bài toán giải bằng hai bước tính”.

 

HS hoạt động cá nhân, đọc hiểu nội dung bài toán, thực hiện gạch chân các từ khoá toán học.

 

Một cơ sở chế biến thu mua cà phê hạt trong hai ngày. Ngày thứ nhất cơ sở chế biến đó thu mua được 2 315 kg cà phê hạt. Ngày thứ hai thu mua được gấp đôi ngày thứ nhất. Hỏi cả hai ngày cơ sở chế biến đó thu mua được bao nhiêu ki-lô-gam cà phê hạt?

 

HS thảo luận cặp đôi tìm ra cách giải bài toán. Khuyến khích HS phác thảo các bước giải bài toán vào nháp.

 

  • Tìm số ki-lô-gam cà phê thu mua được trong ngày thứ hai bằng cách thực hiện phép

 

tính nhân.

 

  • Tính tổng số ki-lô-gam cà phê thu mua được trong hai ngày bằng cách thực hiện phép tính cộng.

 

HS hoạt động cá nhân trình bày bài giải, kiểm tra lại bài giải. HS nói cho bạn nghe về cách giải của mình hoặc nghe bạn nói.

 

Bài 4. Một cơ sở sản xuất bánh trung thu

 

trong hai tuần. Tuần thứ nhất cơ sở đó sản xuất được 3 205 cái bánh. Tuần thứ hai cơ sở đó sản xuất được gấp 3 lần tuần thứ nhất.

 

Hỏi tuần thứ hai cơ sở đó sản xuất được bao nhiêu cái bánh trung thu?

 

Phân tích: HS đọc nội dung bài toán, xác định dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm và gạch chân các từ khoá có trong bài.

 

Một cơ sở sản xuất bánh trung thu trong hai tuần. Tuần thứ nhất cơ sở đó sản xuất được 3 205 cái bánh. Tuần thứ hai cơ sở đó sản xuất được gấp 3 lần tuần thứ nhất. Hỏi tuần thứ hai cơ sở đó sản xuất được bao nhiêu cái bánh trung thu?

 

HS xác định được dạng toán “gấp một số lên một số lần”. Khi xác định được dạng bài toán, HS thực hiện phép tính nhân để tìm được số bánh tuần thứ hai cơ sở đó sản xuất được.

 

 
Dầu gội đầu
Giá chưa giảm: 84 000 đồng

66

 

HS hoạt động nhóm trao đổi, thảo luận về cách trình bày bài giải. HS có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học.

 

Bài 5. Hằng mua 1 quyển sách tham khảo và 1 quyển truyện. Quyển sách tham khảo có giá 23 000 đồng. Quyển truyện có giá gấp 2 lần quyển sách. Hỏi Hằng phải trả cô bán hàng bao nhiêu tiền?

 

Phân tích: HS đọc bài toán, nhận biết được cái đã cho, cái cần tìm, mối liên hệ giữa cái đã cho, cái cần tìm. HS xác định được muốn tìm được kết quả của bài toán thì cần phải biết được quyển truyện có giá bao nhiêu tiền.

 

HS thảo luận, trao đổi với bạn để tìm ra giải pháp để giải bài tập. HS trình bày bài giải và giải thích được cách làm bài của bản thân.

 

HS có được cơ hội phát triển kĩ năng đọc, viết toán học bằng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên.

 

 

 

Bài 6. Tại một siêu thị đang có chương trình khuyến mại nhân dịp khai trương. Mỗi sản phẩm tại siêu thị được giảm số tiền bằng giá ban đầu giảm đi 4 lần. Lan mua một chai dầu gội đầu với giá niêm yết ban đầu là 84 000 đồng.

Hỏi Lan phải trả cô bán hàng bao nhiêu tiền?

 

Phân tích: HS xác định dữ kiện đã cho “Chai dầu gội đầu với giá bán 84 000 đồng. Theo chương trình khuyến mại thì chai dầu gội đó được giảm số tiền bằng giá ban đầu giảm đi 4 lần”, dữ kiện cần tìm là “Tính số tiền phải trả khi mua chai dầu gội đó theo chương trình khuyến mại”.

 

Đây là một tình huống thực tiễn, HS sử dụng kiến thức toán học để giải quyết. Tình huống này HS gặp nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Do đó, bài toán không chỉ tạo được cơ hội phát triển “kĩ năng giao tiếp toán học” mà còn góp phần phát triển các năng lực thành tố của năng lực toán học.

 

Ví dụ 3. Thiết kế bài tập chủ đề “Một số yếu tố thống kê” góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS.

 

67

 

Bước 1. Nghiên cứu yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết của chủ đề

 

Từ yêu cầu cần đạt, xác định nội dung chi tiết của chủ đề bao gồm:

 

  • Thu thập, phân loại ghi chép số liệu thống kê.

 

  • Bảng số liệu thống kê.

 

Bước 2. Xác định các kí hiệu, thuật ngữ toán học sẽ sử dụng

 

Thuật ngữ toán học sẽ sử dụng trong chủ đề: Kiểm đếm, số liệu thống kê, thu thập, phân loại, bảng số liệu thống kê.

 

Bước 3. Thiết kế bài tập và tổ chức HS hoạt động học tập

 

Bài 1. Đọc bảng số liệu thống kê sau và viết tiếp vào chỗ chấm:

 

Số ki-lô-gam hạt điều đã bán trong ba tháng cuối năm

 

 

       
Tháng Tháng Mười Tháng Mười một Tháng Mười hai
       
Số lượng (kg) 150 345 368
     
– Tháng Mười bán được ………….. hạt điều.  
– Tháng Mười một bán được ………….. hạt điều.  
– Tháng Mười hai bán được ………….. hạt điều.  
– Cả ba tháng cửa hàng bán được ………….. hạt điều. Hạt điều
     

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học “bảng số liệu thống kê”, “ki-lô-gam”; Kí hiệu toán học: kg, 150, 345, 368.

 

HS đọc “bảng số liệu thống kê”, biết được bảng biểu diễn “số ki-lô-gam hạt điều đã bán trong ba tháng cuối năm”. Bảng gồm hai hàng, hàng thứ nhất biểu diễn tháng (tháng Mười, tháng Mười một, tháng Mười hai), hàng thứ hai biểu diễn số lượng (tính theo đơn vị là kg).

HS đọc thông tin trong “bảng số liệu thống kê” để điền vào chỗ trống. HS đọc hiểu được nội dung: Tháng Mười bán được 150 kg, tháng Mười một bán được 345 kg, tháng Mười hai bán được 368 kg. Từ đó, HS điền được thông tin thích hợp vào chỗ chấm.

 

68

 

HS có cơ hội phát triển kĩ năng đọc hiểu nội dung toán học, phân tích, lựa chọn những

 

thông tin toán học đúng để điền vào chỗ trống.    
Bài 2. Đọc bảng số liệu thống kê sau và trả lời câu hỏi:    
Số học sinh mỗi khối lớp của trường Tiểu học Yên Tiến  
           
Khối lớp Một Hai Ba Bốn Năm
           
Số học sinh 170 204 172 210 172

 

  1. Số học sinh mỗi khối lớp của trường Tiểu học Yên Tiến?

 

  1. Khối lớp nào có số học sinh nhiều nhất? Khối lớp nào có số học sinh ít nhất?

 

  1. Những khối lớp nào có 172 học sinh? Khối lớp nào có 204 hoc sinh?

 

  1. Tổng số học sinh của trường Tiểu học Yên Tiến là bao nhiêu?

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học “bảng số liệu thống kê” và các kí hiệu toán học (các số 170, 204, 172, 210).

 

HS đọc nội dung toán học, biết được “bảng số liệu thống kê” cho biết số học sinh mỗi khối của trường tiểu học Yên Tiến.

 

HS có thể hỏi – đáp với bạn để trả lời câu hỏi, giải thích cách làm. HS sử dụng NNTH kết hợp với ngôn ngữ tự nhiên để trao đổi, thảo luận với bạn, hiểu những gì bạn nói. Qua đó, HS có cơ hội phát triển kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói.

 

Bài 3. a) Dựa vào kết quả kiểm đếm, hãy hoàn thành bảng số liệu thống kê:

 

     
Năm   Kiểm đếm
     
Năm 2019    
     
Năm 2020    
     
Năm 2021    
     
Năm 2022    
     
| = 10 kg cà phê;   = 50 kg cà phê

 

    69    
  Số lượng cà phê thu hoạch được trong 4 năm  
         
Năm 2019 2020 2021 2022
         
Số lượng (kg)        

 

  1. b) Đọc bảng số liệu thống kê ở ý a và trả lời câu hỏi:

 

  • Năm nào thu hoạch được nhiều cà phê nhất? Năm nào thu hoạch được ít cà phê nhất?

 

  • Năm nào thu hoạch được 370 kg cà phê? Năm 2019 thu hoạch được bao nhiêu ki-

 

lô-gam cà phê?

 

  • Tổng số cà phê cả 4 năm thu hoạch được là bao nhiêu ki-lô-gam?

 

Phân tích. Thuật ngữ toán học “kiểm đếm”, “bảng số liệu thống kê” và các kí hiệu toán học về đo khối lượng.

 

HS đọc hiểu kết quả kiểm đếm, hoàn thành “bảng số liệu thống kê”. Mỗi vạch kiểm biểu diễn 10 kg cà phê nên HS sẽ thống kê được số lượng cà phê thu hoạch được trong từng năm. HS hoàn thành bảng và trả lời câu hỏi dựa trên kết quả của “bảng số liệu thống kê”.

 

Bài tập thiết kế tạo được cơ hội cho HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán học qua việc đọc hiểu nội dung toán học, trả lời câu hỏi trong bài. Ngoài ra, HS còn có cơ hội phát triển “năng lực giải quyết vấn đề toán học”.

 

Bài 4. a) Đọc bảng số liệu thống kê sau và trả lời câu hỏi:

 

Số lượng cửa hàng đã bán trong ba tháng đầu năm

 

Tháng   Một   Hai   Ba
Thiết bị      
           
             
Máy hút ẩm (chiếc) 34 45 26
             
Máy lọc không khí 26 33 42
(chiếc)
           
             

 

 

  1. b) Đúng ghi Đ, sai ghi S:

 

70

 

  • Bảng thống kê cho biết số lượng máy hút ẩm, máy lọc không khí bán trong tháng Một, tháng Hai, tháng Ba ……….

 

  • Tháng Ba cửa hàng bán được số lượng máy hút ẩm không khí nhiều nhất trong ba tháng ……..

 

  • Số lượng máy hút ẩm bán được trong tháng Một là 34 chiếc ……..

 

  • Cửa hàng bán được 33 chiếc máy lọc không khí trong tháng Hai ….

 

  • Tổng số máy hút ẩm đã bán trong ba tháng là 105 chiếc ……..

 

  • Trong cả ba tháng, cửa hàng bán được số lượng máy lọc không khí nhiều hơn số lượng máy hút ẩm ……

 

Phân tích. HS đọc “bảng số liệu thống kê”, bảng này có 3 hàng, hàng thứ nhất biểu thị tên tháng, hàng thứ hai số lượng máy hút ẩm bán được trong từng tháng, hàng thứ ba là số lượng máy lọc không khí bán được trong tháng Một, tháng Hai, tháng Ba.

 

HS nói cho bạn nghe và nghe bạn nói về số lượng từng loại bán được trong ba tháng. Từ đó, HS đọc nội dung từng phát biểu của câu b, đối chiếu lên “bảng số liệu thống kê” để lựa chọn điền Đ (Đúng) hay điền S (Sai).

 

Hoạt động toàn lớp, HS nêu kết quả và giải thích cách làm. Qua đó, HS có cơ hội phát triển “kĩ năng giao tiếp toán học” trong học tập môn Toán.

Bài 5. a) Lập bảng số liệu thống kê và trả lời câu hỏi: Cân nặng của các bạn trong nhóm

 

Tên bạn

 

Cân nặng (kg)

 

  • Bạn nào nặng nhất? Bạn nào nhẹ nhất?

 

  • Bạn nào có cân nặng bằng em?

 

  • Sắp xếp tên của các bạn theo thứ tự từ bạn có số cân nhẹ nhất đến bạn có số cân nặng nhất.

 

  1. b) Em hãy tìm hiểu thông tin dự báo thời tiết trong 5 ngày trong tuần tại địa phương và hoàn thành bảng thống kê sau:

 

71

 

           
  Thứ Ba Năm Sáu
Nhiệt độ Hai
         
           
Cao nhất          
           
Thấp nhất          

 

Trả lời câu hỏi:

 

  • Nhiệt độ cao nhất trong mỗi ngày là bao nhiêu độ?

 

  • Nhiệt độ thấp nhất trong mỗi ngày là bao nhiêu độ? Em cần lưu ý gì về việc lựa chọn trang phục khi mặc đi học để phù hợp với thời tiết?

 

Phân tích. Bài toán đưa ra nhiệm vụ HS cần giải quyết: thống kê cân nặng của các bạn trong nhóm học tập vào “bảng số liệu thống kê”; Sau khi hoàn thành bảng, HS trả lời câu hỏi. Đây là tình huống mở, mỗi HS sẽ có một kết quả khác nhau. Tuy nhiên, tình huống này giúp HS không chỉ đọc hiểu nội dung toán học mà còn được thực hành vận dụng toán học vào thực tiễn. HS thấy được toán học bắt nguồn từ thực tiễn và quay trở lại phục vụ thực tiễn.

 

III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:

 

III.1. Hiệu quả về mặt định lượng

 

Khi kết thúc thực nghiệm các biện pháp trên, nhằm mục đích có thêm những nhận định đánh giá về mặt định lượng, tôi tiến hành tổ chức HS làm bài kiểm tra và chấm điểm. Kết quả thu được chỉ nhằm mục đích phục vụ cho báo cáo sáng kiến, không sử dụng trong đánh giá chính thức. Cụ thể như sau:

 

* Phân tích kết quả bài kiểm tra của lớp lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Bảng 3.1. Kết quả bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

                       
xi Tổng   Điểm 5 Điểm 6 Điểm 7 Điểm 8   Điểm 9 Điểm 10 Điểm
số HS     TB
                       
fi (TN) 60 0 3 4 15 20 18 8,77
                       
fi (ĐC) 61 1 5 4 25 16 10 8,31
                       

 

72

 

Bảng trên cho thấy điểm trung bình của lớp thực nghiệm (8.77) cao hơn so với lớp đối chứng (8.31). Qua đó khẳng định khi HS có cơ hội phát triển kĩ năng giao tiếp toán học thì kết quả học tập sẽ tốt hơn so với lớp đối chứng. Kết quả bài kiểm tra được biểu diễn bằng biểu đồ dưới đây:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biểu đồ 3.1. Kết quả bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Kết quả bài kiểm tra kết thúc thực nghiệm của các lớp thực nghiệm và lớp đối

 

chứng theo tỷ lệ phần trăm được thể hiện trong biểu đồ 3.2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biểu đồ 3.2.

 

Tỷ lệ phần trăm kết quả bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

 

 

Từ kết quả trên ta thấy điểm kiểm tra sau thực nghiệm của HS lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng. Tỷ lệ HS đạt điểm 5 của các lớp thực nghiệm không có nhưng lớp đối chứng là 1,6%. Tỉ lệ phần trăm HS đạt điểm 6 của các lớp thực nghiệm là

 

73

 

5,0% trong khi đó lớp đối chứng là 8,2%. Tỉ lệ HS đạt điểm 9 ở lớp thực nghiệm là 33,3% trong khi đó lớp đối chứng chỉ có 26,2%; tỉ lệ HS đạt điểm 10 ở lớp thực nghiệm là 30,0% trong khi lớp đối chứng có 18,7%.

 

Các kết quả trên cho phép kết luận về kết quả học tập của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng.

Kết quả phân tích điểm kiểm tra sau thực nghiệm của các lớp cho thấy chất lượng học tập của lớp thực nghiệm được nâng lên. Điểm trung bình của các lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối chứng. Như vậy, có thể khẳng định được các biện pháp luận văn đề xuất có tính khả thi trong thực tiễn dạy học vì kĩ năng giao tiếp toán học có ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS.

 

III.2. Hiệu quả về mặt định tính

 

Để đánh giá định tính kết quả thực nghiệm các biện pháp trên, tôi căn cứ vào sản phẩm học tập của HS, kết quả quan sát qua dự giờ, nhận xét, trao đổi và đánh giá của GV sau mỗi giờ dạy.

 

GV dạy lớp thực nghiệm đều có nhận xét HS tiến bộ rõ rệt trong học tập môn Toán. Kĩ năng nói toán, viết toán của HS có sự tiến bộ so với chính bản thân. HS có thể nghe hiểu được nội dung toán học ở mức độ đơn giản và viết lại.

HS tự tin hơn trong trình bày nội dung toán học bằng ngôn ngữ nói. HS bước đầu có tư duy phản biện khi tiếp nhận một nội dung toán học bằng cách đọc, hoặc nghe bạn trình bày. HS thảo luận, tranh luận để tìm ra được cách giải quyết vấn đề toán học khi gặp những tình huống có vấn đề hay các bài tập cần trao đổi. Kết thúc quá trình thực nghiệm, mỗi GV lớp thực nghiệm đều có chung nhận xét “kĩ năng giao tiếp toán học của HS đã có sự tiến bộ nhiều so với trước quá trình tác động của các biện pháp sư phạm”. Dưới đây là một số hình ảnh và sản phẩm của lớp thực nghiệm trong giờ “Em vui học toán”.

 

74

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi đưa ra những đánh giá định tính thông qua dự giờ, trao đổi trực tiếp với

 

GV đứng lớp, phỏng vấn HS sau mỗi giờ học tôi nhận thấy:

 

  • Về phía GV: Các GV tham gia thực nghiệm đều thấy rất bổ ích vì có được biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho HS một cách cụ thể và hiệu quả. Các GV tham gia thực nghiệm đều chia sẻ đã học hỏi được rất nhiều qua quá trình thực nghiệm và sẽ tiếp tục vận dụng trong thực tiễn dạy học, sẽ chia sẻ với đồng nghiệp các biện pháp luận văn đề xuất.
  • Về phía HS: Trong các giờ học, HS có kĩ năng giao tiếp toán học tốt hơn, kĩ năng nói toán, viết toán của HS đã được khắc phục. HS tự tin hơn trong trình bày, tranh luận, thảo luận về các nội dung toán học trong giờ học toán, trong hoạt động toán học.

 

III.3. Hiệu quả chung sau khi thực hiện các biện pháp

 

Sau khi thực hiện các biện pháp trên trong giảng dạy môn Toán lớp 3, kĩ năng giao tiếp toán học của HS có những thay đổi tiến bộ rõ rệt. HS tự tin hơn trong thuyết trình các nội dung toán học, trong quá trình tranh luận, thảo luận với bạn về nội dung toán học cũng luôn đưa ra được kết quả tối ưu hơn trong học tập, trong cách giải quyết vấn đề. HS chủ động hơn trong giao tiếp với GV, với bạn khi học tập môn

 

75

 

Toán. Kĩ năng đọc hiểu và viết toán của HS có sự tiến bộ rõ rệt, sử dụng NNTH chính xác hơn trong học tập môn Toán. Trong các giờ học Toán, HS hào hứng, sôi nổi tham gia xây dựng bài. HS thích được tham gia các hoạt động toán học, thích được trao đổi, giao tiếp với bạn trong các giờ học toán.

 

Chất lượng dạy học môn Toán đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học và hoạt động trải nghiệm của khối lớp 3 trong Trường Tiểu học Yên Tiến, đồng thời đưa chất lượng thực hiện Chương trình GDPT 2018 đối với các khối lớp 1, 2, 3 và chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường ngày một nâng cao.

 

Chất lượng mũi nhọn.

 

 

     
STT Các cuộc thi và Kết quả đạt được
giao lưu
   
     
1 Hùng biện Tiếng Anh Cấp Huyện: 03 giải Ba, 01 giải Khuyến khích
 
Cấp Tỉnh: 01 giải Khuyến khích
   
     
2 Viết chữ Đúng và Đẹp Cấp Huyện: 02 giải Nhì, 04 giải Ba, 04 giải
Khuyến khích
   
     
3 Toán, Khoa học bằng Cấp Tỉnh: 01 giải Nhì, 01 giải Ba, 02 giải
Tiếng Anh Khuyến khích
 
     
    Cấp Tỉnh – Kì thi Hội: 06 giải Nhất, 03 giải
4 Trạng Nguyên Nhì, 09 giải Ba, 10 giải Khuyến khích
Tiếng Việt  
Cấp Quốc gia – Kì thi Đình: 01 giải Ba, 02 giải
 
    Khuyến khích
     
    Cấp huyện:
    – Vinh danh toàn quốc: 01 giải Ba, 01 giải
5 Olympic Tiếng Anh Khuyến khích
trên Internet – Vinh danh toàn tỉnh: 08 giải Nhất, 15 giải
 

 

Nhì, 14 giải Ba, 12 giải Khuyến khích

 

76

 

       
      Cấp Tỉnh:
      – Vinh danh toàn quốc: 01 giải Nhì, 01 giải Ba
      – Vinh danh toàn tỉnh: 06 giải Nhất, 07 giải
      Nhì, 10 giải Ba, 13 giải Khuyến khích
       
      Cấp toàn Quốc: 01 huy chương Bạc, 01 huy
      chương Đồng, 01 giải Khuyến khích
       
    Giải Toán qua mạng Cấp huyện: 22 giải Vàng, 21 giải Bạc
     
6 Cấp Tỉnh: 01 huy chương Đồng, 01 giải
  Violympic (Tiếng Việt)
      Khuyến khích
       
7   Giải Toán qua mạng Cấp huyện: 13 giải Vàng, 07 giải Bạc
  Violympic (Tiếng Anh)
   
       
8   Giai điệu tuổi hồng Cấp Tỉnh: Giải Ba
       
    Vẽ tranh trên báo Nhi  
9   đồng với chủ đề “Thầy 01 giải Ba, 01 giải Khuyến khích
    cô mến yêu”  
       

 

 

Khen thưởng.

 

             
  Học sinh được khen Học sinh được khen HS hoàn thành
Khối cấp Trường cấp Huyện, Tỉnh CTTH/ CTLH
lớp            
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
 
             
1 148/200 74,0% 4 2% 198/200 99%
             
2 172/242 71,1% 2 0,8% 242/242 100%
             
3 165/235 70,2% 22 9,36% 140/235 100%
             
4 163/239 68,2% 15 6,27% 142/239 100%
             
5 184/270 68,1% 12 4,44% 174/270 100%
             

 

CÁC PHỤ LỤC KÈM THEO BÁO CÁO

 

Phụ lục 1.

 

PHIẾU KHẢO SÁT GIÁO VIÊN

 

(Dành cho giáo viên tiểu học)

 

Để tìm hiểu thực trạng dạy học môn Toán ở lớp 3 góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh, xin thầy/cô vui lòng cho biết ý kiến của mình về các vấn đề sau bằng cách khoanh tròn hoặc đánh dấu vào các chữ cái đứng trước ý lựa chọn. Những thông tin thu được từ phiếu này chỉ phục vụ mục đích khoa học, không vì mục đích nào khác.

 

Câu 1. Theo thầy (cô) có cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Toán không?

 

  1. Rất cần thiết B. Cần thiết

 

  1. Bình thường D. Không cần thiết

 

Câu 2. Trong dạy học thầy (cô) có thường xuyên tạo cơ hội cho học sinh được phát triển kĩ năng giao tiếp toán học không?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. Rất thường xuyên B. Thường xuyên C. Thỉnh thoảng D. Chưa bao giờ

 

Câu 3. Theo thầy/cô, trong dạy học môn Toán thì kĩ năng giao tiếp toán học nào là cần thiết phải rèn luyện cho học sinh?

 

  1. Kĩ năng đọc Toán B. Kĩ năng viết toán

 

  1. Kĩ năng nghe – nói toán D. Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ toán học kết

 

hợp với ngôn ngữ tự nhiên (tiếng Việt) trong học tập toán

 

Câu 4. Thầy/cô có thường xuyên gặp khó khăn trong phát triển kĩ năng giao tiếp

 

toán học cho học sinh không?

 

  1. Rất thường xuyên B. Thường xuyên

 

  1. Thỉnh thoảng D. Chưa bao giờ

 

Câu 5. Trong dạy học thầy (cô) thường xuyên áp dụng biện pháp nào sau đây để góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh?

  1. Tổ chức hoạt động học tập tạo cơ hội cho HS được đọc toán, viết toán nhiều hơn trong các giờ học toán

 

  1. Tạo cơ hội cho học sinh được thảo luận, trao đổi trong giờ học toán C. Tổ chức cho học sinh tham giác các hoạt động ngoại khoá toán học

 

  1. Các biện pháp khác:………………………………………………………………………….

 

Câu 6. Trong quá trình dạy học môn Toán theo hướng góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh thầy/cô thường gặp khó khăn gì?

 

  1. Không có biện pháp cụ thể rèn kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh.

 

  1. Khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ toán học để trình bày bài tập

 

  1. Khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học trong giao tiếp toán học.

 

  1. Ý kiến khác: ……………………………………………………………………………….

 

Câu 7. Thầy/cô hãy đánh giá kĩ năng giao tiếp toán học của học sinh tiểu học hiện nay:

 

Ý kiến

 

Khía cạnh đánh giá                                                  Tốt Khá Trung Yếu bình

 

Kĩ năng đọc hiểu văn bản toán học

 

Kĩ năng “nói toán”

 

Kĩ năng “viết toán”

 

Kĩ năng nghe hiểu vấn đề toán học

 

Kĩ năng chuyển đổi ngôn ngữ toán học sang ngôn ngữ tự nhiên (tiếng Việt) và ngược lại.

Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ toán học hiệu quả trong giao tiếp toán học

 

Trân trọng cảm ơn thầy (cô) đã hợp tác!

 

Phụ lục 2.

 

HÌNH ẢNH HỌC SINH THAM GIA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

 

TRONG CÁC TIẾT TOÁN 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Học sinh hoạt động nhóm đôi trong bài “Khối hộp chữ nhật. Khối lập phương”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực hành và trình bày kết quả làm việc trong bài “Làm quen với chữ số La Mã”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động nhóm – Bài “Thực hành xem đồng hồ”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Học sinh thao tác trên đồ dùng – Bài “Khả năng xảy ra của một sự kiện”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động nhóm trong bài “ Phép trừ trong phạm vi 100000”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực hành trên đồ dùng học tập – Bài “Các số trong phạm vi 10000”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Học sinh hoạt động thực hành trong bài “Em vui học toán”

 

Phụ lục 3.

 

KẾ HOẠCH BÀI DẠY MINH HỌA

 

Toán lớp 3

 

Bài 30: EM VUI HỌC TOÁN (2 tiết)

 

  1. YÊU CẦU CẦN ĐẠT:

 

  1. Năng lực đặc thù

 

Học xong bài này, HS sẽ được trải nghiệm các hoạt động:

 

– Củng cố kĩ năng; thực;; hành; ;nhân,; ;chia (trong bảng)

 

– Nhận biết về                                       (một phần mấy) thông qua việc tự thiết

 

kế dụng cụ học tập (mang tính chất vừa học vừa chơi) hoặc thông qua việc tổ chức một trò chơi học tập.

 

  • Củng cố kĩ năng thực hành nhân, chia (trong bảng) thông qua việc tổ chức một trò chơi học tập.

 

  • Thực hành đo chiều cao và ghi số đo chiều cao bằng cách sử dụng các số đo với hai đơn vị đo thích hợp.

 

  1. Năng lực chung

 

  • Năng lực tự chủ, tự học: Chủ động học tập, tìm hiểu nội dung bài học. Biết lắng nghe và trả lời nội dung trong bài học.

 

  • Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: tham gia tích cực vào hoạt động vận dụng.

 

  • Năng lực giao tiếp và hợp tác: Thực hiện tốt nhiệm vụ trong hoạt động nhóm.

 

  1. Phẩm chất

 

  • Phẩm chất nhân ái: Có ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm để hoàn thành nhiệm vụ.

 

  • Phẩm chất chăm chỉ: Chăm chỉ suy nghĩ, trả lời câu hỏi; làm tốt các bài tập.

 

  • Phẩm chất trách nhiệm: Giữ trật tự, biết lắng nghe, học tập nghiêm túc.

 

 

 

  1. CHUẨN BỊ

 

  • GV: SGK, thước dây để đo chiều cao

 

  • HS: SGK, vở, bút. Các tờ giấy màu hoặc giấy thủ công, kéo cắt giấy, hồ dán, một quân xúc xắc (có thể tự làm bằng đất nặn hoặc bằng giấy).

 

  • HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

 

       
Nội dung/ TG Hoạt động của GV   Hoạt động của HS
       
1. HĐ khởi động: – GV tổ chức cho HS hát 1 bài hát   – HS hát
– MT Tạo không để khởi động bài học.    
khí vui vẻ, khấn – GV nhận xét, tuyên dương.   – HS lắng nghe.
khởi trước giờ học. – GV dẫn dắt vào bài mới    
2. HĐ luyện tập:      
Bài 1:Thiết kế – Cho HS quan sát hình ảnh, trả lời   – HS quan sát, trả lời:
dụng cụ học nhân, câu hỏi: Em nhìn thấy gì trong ảnh?   + Vòng tròn bảng nhân
chia (trong bảng)     3, chia 3
(Làm việc nhóm 4)     + Tam giác các phép
-MT: Củng cố kĩ     tính nhân chia được tạo
năng thực hành     thành từ ba chữ số.
nhân, chia (trong – GV giới thiệu về 3 loại dụng cụ học   – HS lắng nghe
bảng) nhân, chia.    
  – Cho HS thảo luận nhóm 4, đưa ra ý   – HS thảo luận, lên ý
  tưởng thiết kế một loại dụng cụ học   tưởng
  nhân, chia    
  – YC HS thực hiện theo nhóm: Sử   – HS làm việc
  dụng các tờ giấy màu, kéo, hồ dán    
  trên đó được ghi các phép tính được    
  thống nhất trong nhóm.    
  – Mỗi nhóm cử ra một người giám    
  sát, nhận xét hoạt động của nhóm    
  khác chẳng hạn (tính toán có đúng    
  không, tính sáng tạo, tính thẩm mĩ    
  của thiết kế).    
  – Gọi 1 số nhóm lên trưng bày và   – Các nhóm lên chia sẻ
  giới thiệu về sản phẩm của nhóm   về sản phẩm của nhóm
  mình theo các tiêu chí:   mình.
  + Tên dụng cụ    
  + Vật liệu làm ra dụng cụ    
  + Cách sử dụng dụng cụ    
       

 

       
Nội dung/ TG Hoạt động của GV   Hoạt động của HS
         
    + Tác dụng, lợi ích của dụng cụ đó    
    trong học tập    
    – Các nhóm khác nhận xét.   HS nhận xét, lắng nghe.
    – GV tổng kết, tuyên dương các    
    nhóm.    
    *Thiết kế lời nhắn để nhắc các bạn    
    chú ý khi thực hiện nhân, chia với    
    số 0, số 1    
    – GV gọi HS nhắc lại:   – HS trả lời
    + Khi nhân hoặc chia một số bất kì   + Khi nhân hoặc chia
    với số 0   một số bất kì với số 0
        thì kết quả đều bằng 0
    + Khi nhân hoặc chia một số bất kì   + Khi nhân hoặc chia
    với số 1   một số bất kì với số 1
        thì kết quả đều bằng
        chính nó.
    – Cho HS thảo luận nhóm 4, đưa ra   – HS làm việc nhóm
    ý tưởng và thiết kế lời nhắn để nhắc    
    các bạn chú ý khi thực hiện nhân,    
    chia với số 0, số 1.    
    – Gọi 1 số nhóm lên trưng bày và   – Nhận xét nhóm bạn
    giới thiệu về sản phẩm của nhóm    
    mình, các nhóm khác nhận xét.    
    – GV tổng kết, tuyên dương các   – Lắng nghe
    nhóm.    
Bài 2: (Làm việc – Cho HS quan sát hình ảnh, trả lời   – HS quan sát, trả lời:
nhóm 4) Góc sáng câu hỏi: Em nhìn thấy gì trong ảnh?   + Bông hoa tạo bởi các
tạo “Một phần     hình  tròn  có  chia  số
mấy của tôi”     phần.
(Làm việc nhóm     + Con chim tạo bởi các
4)       hình tam giác có chia số
;  ; . . ; biết về     phần.
MT: nhận    
  (một     + Con chó tạo bởi các
phần  mấy) thông     hình tam giác có chia số
    phần.
qua việc tự thiết kế    
     
         

 

     
Nội dung/ TG Hoạt động của GV Hoạt động của HS
         
dụng cụ  học tập   +Hình tròn, hình vuông,
(mang tính chất vừa   hình tam giác, hình chữ
học vừa chơi) hoặc   nhật chia thành các phần
thông qua việc tổ   bằng nhau.
chức một trò chơi – GV giới thiệu về các hình ảnh sáng – HS lắng nghe
học tập.     tạo và cách để tạo ra chúng.  
        – Cho HS thực hiện theo nhóm 4, sử – HS làm việc nhóm 4
        dụng những tờ giấy màu sắc khác  
        nhau để chia thành các phần bằng  
        nhau, ghi một phần mấy vào từng  
        phần rồi cắt rời để lắp ghép hình sáng  
        tạo. – HS làm việc nhóm để
        – HS thảo luận các ý tưởng lắp ghép, hoàn thành sản phẩm
        cùng nhau hoàn thành sản phẩm. – Đại diện nhóm lên
        – Gọi 1 số nhóm trưng bày và giới trình bày, HS dưới lớp
        thiệu sản phẩm của mình cho các lắng nghe nhóm bạn
        nhóm khác xem. Các nhóm khác giới thiệu và nhận xét.
        nhận xét. – HS lắng nghe.
        – GV tổng kết, tuyên dương các nhóm. – HS lắng nghe
        – GV nêu cách chơi, luật chơi  
Bài 3: Chơi trò chơi + Chuẩn bị hai quân xúc xắc, tờ giấy  
“Gieo xúc xắc làm nháp có kẻ sẵn ô li hoặc lấy mặt sau  
tính nhẩm” (hoạt tờ giấy thủ công đã có ô vuông hoặc  
động nhóm đôi) có thể lấy bảng con có chia ô vuông  
MT:  Củng cố  kĩ để thực hiện trò chơi.  
năng thực   hành + Oẳn tù tì để chọn người chơi trước.  
nhân, chia (trong + Mỗi người chơi tung quân xúc xắc  
bảng) thông qua rồi chọn số ô vuông là kết quả của  
việc tổ chức một trò phép nhân có một thừa số là số chấm  
chơi học tập.   trên mặt quân xúc xắc. Ví dụ, khi mặt  
        quân xúc xắc là 4, HS nêu phép nhân  
        4 x 3 = 12 và tô màu vào 3 hàng, mỗi  

 

hàng 4 ô vuông.

 

+ Cứ tiếp tục như vậy, ai chọn được

 

các ô vuông mà phủ kín tờ giấy hơn

 

thì thắng cuộc.

 

     
Nội dung/ TG Hoạt động của GV Hoạt động của HS
     
  – Cho HS thực hiện theo cặp đôi.  
  – GV quan sát, gợi ý, đặt câu hỏi và – HS chơi theo nhóm
  khuyến khích HS nêu cảm nhận về đôi
  những kiến thức, kĩ năng vận dụng  
  khi chơi.  
  – GV nhận xét, tuyên dương HS  
  – GV hướng dẫn HS cách đo chiều  
  cao với thước thẳng (thước đo y tế) – HS lắng nghe
  hoặc thước dây và tổ chức cho HS – HS lắng nghe
Bài 4: Thực hành thực hiện các hoạt động sau:  
đo chiều cao (làm + Chia nhóm. Cử nhóm trưởng và thư  
việc nhóm 4) kí nhóm.  
MT: Thực hành đo + Đo chiều cao từng bạn trong nhóm. – HS chia nhóm 4: cử
chiều cao và ghi số Ghi chép vào một bảng tổng hợp. trưởng nhóm và thư kí
đo chiều cao bằng + Nhóm trưởng báo cáo kết quả của – Các nhóm tiến hành
cách sử dụng các số nhóm. đo chiều cao.
đo với hai đơn vị đo  – GV cho các nhóm tập hợp lại và chia – Nhóm trưởng báo cáo
thích hợp. sẻ về các thông tin thu thập được.  
  – GV tổng kết, nhận xét hoạt động – Các nhóm chia sẻ
  và tuyên dương các nhóm. thông tin thu thập
  – Giao HS về nhà sáng tạo thêm – HS lắng nghe
  nhiều sản phẩm phục vụ học tập và  
  giới thiệu những sản phẩm đó với  

 

  1. HĐ vận dụng. người thân của mình và về nhà thực

 

– MT: Củng cốhành đo chiều cao của các thành

 

 

những kiến thức đã học trong tiết học

viên trong gia đình mình và ghi vào

 

bảng tổng hợp.

 

– GV nhận xét tiết học, dặn dò HS

 

 

 

 

 

  1. Củng cố, dặn dò

 

  1. ĐIỀU CHỈNH SAU BÀI DẠY:

 

………………………………………………………………………………………………………………………….

 

 

DOWNLOAD FILE

SKKN giao tiếp toán lớp 3 cấp tỉnh

5/5 - (1 ĐÁNH GIÁ)

Tag: rem cua, rem cua dep, rem cua so, rem phong ngu, rem phong khach, rèm văn phòng, rèm vải, rèm roman, rèm lá dọc, rèm sáo nhôm, mua rèm cửa giá rẻ tphcm, giá rèm cửa, lắp rèm cửa sổ, rèm cửa sổ nhỏ , May rèm cửa giá rẻ, rèm cửa chính, các loại rèm cửa, mẫu rèm cửa đẹp

Bài Đăng Cùng Series
tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 7 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 7 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 6 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 6 pdf Tài liệu giáo dục địa phương lớp 7 tỉnh bắc ninh pdf Tài liệu giáo dục địa phương lớp 7 tỉnh bắc ninh pdf Bạn đang xem: BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TOÁN HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3 tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 7 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 7 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 6 pdf tài liệu giáo dục địa phương tỉnh bình dương lớp 6 pdf Tài liệu giáo dục địa phương lớp 7 tỉnh bắc ninh pdf Tài liệu giáo dục địa phương lớp 7 tỉnh bắc ninh pdf
Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

TRI ÂN ĐỐI TÁC VÀ KHÁCH HÀNG CÙNG CHUNG TAY VỚI THANH HƯƠNG

Đăng ký May rèm cửa tại đây

Được tư vấn may rèm cửa và nhận nhiều ƯU ĐÃI may rèm cửa, thi công rèm cửa, dịch vụ may rèm cửa...mới nhất!

Đăng ký nhận ƯU ĐÃI!

4.9/5 - (6997 BÌNH CHỌN)